Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I

Ngày đăng: Thứ ba 27/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Hầu hết mọi người quan tâm đến “Truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy” đều thống nhất nhận thấy ở trong đó thể hiện vũ trụ quan của dân tộc Việt. Nhưng hầu hết những ý kiến đều cho đó là quan niệm thô sơ của người xưa: “Trời tròn, đất vuông”. Trời như cái vung úp xuống đất, đất bằng phẳng và chung quanh là biển. Hoặc cũng có người cho rằng bánh chưng, bánh dầy là thể hiện những giá trị đạo lý của người xưa đối với cha mẹ: “Trời sinh là cha, đất dưỡng là mẹ”. Bánh Chưng tượng đất, chứa đựng những hình tượng về sự phú túc của đất mẹ nuôi dưỡng con người (trong bài tựa “Lĩnh Nam Chích Quái” của Vũ Quỳnh, thời Hồng Đức cũng nói đến ý này)...
Nhưng nếu hình vuông và tròn của bánh chưng và bánh dầy chỉ là hình tượng để thể hiện một ý niệm đơn giản, thì trong những thực phẩm khác cũng có thể lý giải tương tự: đĩa xôi, bánh chay, bánh trôi cũng tròn như bánh dầy. Hoặc bánh gai, bánh cốm, bánh giò... cũng gồm đủ những yếu tố dinh dưỡng và hình thức tương tự như ở bánh chưng. Do đó, nếu chỉ với ý nghĩa và hình tượng đơn giản được gán cho bánh chưng, bánh dầy thì sẽ khó bền vững qua thời gian hơn 2000 năm, chỉ tính với thời gian ít nhất là từ khi Nam Việt của Triệu Đà bị tiêu diệt. Trên thực tế hiện nay, vì chiếc bánh chưng bánh dầy đã mất ý nghĩa nguyên thủy đích thực, nên sự tồn tại của nó chỉ là một phong tục truyền thống và sự cảm nhận thiêng liêng đối với tổ tiên, hơn là một sự tiếp nối những giá trị tư tưởng mà bánh chưng, bánh dầy thể hiện. Vậy ý nghĩa đích thực của bánh chưng, bánh dầy là gì?
Trước hết, chúng ta đặt vấn đề bắt đầu từ hình tượng bánh chưng vuông và bánh dầy tròn. Hình tượng vuông tròn này đã được sử dụng một cách phổ biến trong ngôn ngữ dân gian, cách đây hơn 20 năm trở về trước. Đó là câu: “Mẹ tròn, con vuông”. Từ trước đến nay, câu “Mẹ tròn, con vuông” thường sử dụng sai lầm như là một thành ngữ để chúc lành cho sản phụ sinh nở; do đó ngày nay không còn mấy ai nhắc tới, bởi vì sự khó hiểu của nó. Trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du cũng dùng hình tượng vuông tròn nhiều lần. Đó là những câu:

Sắn, bìm chút phận cỏn con
Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?
Hoặc:
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
Khuôn xanh biết có vuông tròn cho chăng?
Hay là:
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.

Vậy hình tượng vuông tròn thể hiện cho cái gì?

Hình tượng vuông tròn trong lý học cổ Đông phương

Để tìm hiểu về vấn đề này, người viết xin bắt đầu bằng sự trình bày về những ý niệm của vũ trụ quan cổ Đông phương. Những sách Lý học Đông phương khi lý giải về sự hình thành vũ trụ cho rằng: “Khởi thủy của vũ trụ là Thái Cực”. Sách cổ nhất nói về điều này là kinh Dịch. Hệ từ thượng chương XI viết:

“Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh Tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát quái”.

Theo Chu Hy - nhà Lý học đời Tống - nói:

“Thánh nhân gọi là Thái Cực để chỉ cái bản căn của trời đất muôn vật” (Đại cương Triết học Trung Quốc - Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1992).

Một số nhà Lý học Trung Hoa từ cuối thời Hán về sau còn diễn đạt trạng thái ban đầu của vũ trụ dưới các ý niệm khác là: Thái Hư (Hư - sự trống rỗng, Thái - vượt ra ngoài sự trống rỗng) hoặc Thái Vô (Vô - không, Thái - vượt ra ngoài cái không). Những ý niệm này đều nhằm mục đích giải thích rõ hơn cho ý niệm của Thái Cực.
Theo sách Đại cương Triết học Trung Quốc (sách đã dẫn) thì quan niệm Thái Cực của các nhà Lý học Trung Hoa chưa có sự thống nhất:

Trịnh Khang Thành cắt nghĩa: “Thái Cực là đạo Cực Trung, là cái khí thuần hòa còn chưa chia” (Văn tuyển chú dẫn). Ngu Phiên thì nói: “Thái Cực là Thái Nhất nghĩa là theo thuyết cũ của Hán Nho cho 4 câu này (Dịch hữu Thái Cực) là nói cái quá trình hình thành vũ trụ. Chu tử đời Tống thì cho rằng 4 câu này là quá trình tập hợp quái của cổ nhân. Thuyết của Chu tử sau bị Lý Thứ Cốc đời sau phản bác.

Thái Cực sinh Lưỡng Nghi là Âm Dương. Theo Chu Hy thì “Thái Cực đem phân ra chỉ là Âm Dương” (Thái Cực phân khai chỉ thị lưỡng cá Âm Dương).
Khí Dương - theo Lý học cổ Đông phương - có tính thuần khiết, viên mãn và thông biến nên tượng của Dương hình tròn. Khí Âm tụ, đục, giới hạn nên tượng của Âm hình vuông.
Câu nói của người Việt được lưu truyền: “Mẹ tròn, con vuông” thường là để chúc lành cho sản phụ sắp sinh nở sẽ rất khó hiểu về ý nghĩa thực tế. Nhưng nếu coi đó là câu tục ngữ mà ông cha lưu truyền cho đời sau sự nhận thức về vũ tru, thì hoàn toàn có thể hiểu được: tính hiếu sinh của vũ trụ - Thái Cực sinh Lưỡng Nghi và Âm Dương hài hòa là nguồn gốc của mọi sự phát triển tốt đẹp (theo ý nghĩa của câu tục ngữ “Mẹ tròn, con vuông” thể hiện vũ trụ quan của người Việt, khác hẳn tất cả các ý niệm về bản nguyên vũ trụ của các nhà Lý học cổ kim, trong tất cả các sách liên quan đến vấn đề này từ trước đến nay, xin được trình bày rõ hơn ở phần sau).
Theo thuyết Âm Dương thì phạm trù của Âm Dương rất rộng: bao trùm từ sự khởi nguyên cho đến mọi sự vận động, phát sinh, phát triển của vũ tru. Dương bao gồm: Trời, cha, đàn ông... Âm bao gồm: Đất, mẹ, đàn bà... Như vậy, hình tượng vuông tròn và tính chất của bánh chưng, bánh dầy hoàn toàn đầy đủ điều kiện để biểu tượng cho Âm Dương: Bánh dầy có màu trắng, không vị của nếp giã thể hiện sự thuần khiết; tính dẻo thể hiện sự thông biến; hình tròn của bánh dầy thể hiện sự viên mãn của Dương. Bánh chưng hình vuông là tượng của Âm. Nhưng những vật liệu cấu tạo nên bánh chưng là một vấn đề đáng chú ý khi hình tượng vuông tròn của bánh chưng, bánh dầy thể hiện Âm Dương trong vũ trụ quan cổ Đông phương.
Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được chính thức chấp nhận từ thời Hán trong lịch sử Trung Hoa về sau có nói đến: sự chuyển hóa Âm Dương sinh ra 5 dạng vật chất căn bản là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi chung là Ngũ hành. Năm dạng vật chất này tương tác lẫn nhau trong sự chi phối của Âm Dương tạo nên vạn vật.
Sự tương tác, vận động của Ngũ hành trong thuyết Âm Dương Ngũ hành rất phức tạp, nhưng khởi thủy từ hai dạng vận động chính là tương sinh và tương khắc được thể hiện ở hình vẽ sau.

Nhìn chung Ngũ hành tương sinh theo quan niệm Lý học Đông phương là nguồn gốc của mọi sự phát sinh và phát triển trong sự chi phối hài hòa của Âm Dương. Ngũ Hành tương khắc là nguồn gốc của mọi sự ngưng trệ. Tượng của Ngũ Hành khi thể hiện ở màu sắc là: Hỏa màu đỏ; Thổ màu vàng; Kim màu trắng; Thủy màu đen; Mộc màu xanh lá cây.
Xét cấu tạo của chiếc bánh chưng gồm bốn vật liệu chính và phải luộc bánh (dụng Thủy) thì có thể khẳng định đó là biểu tượng của Ngũ hành được sắp xếp theo lý tương sinh từ trong ra ngoài: thịt lợn (heo) sắc hồng thuộc Hỏa sinh Thổ - sắc vàng của đậu xanh; Thổ sinh Kim - sắc trắng của gạo nếp; Kim sinh Thủy - dịch chất của gạo nếp và diệp lục tố của lá dong tạo nên màu xanh trên mặt bánh khi luộc; Thủy dưỡng Mộc - lá dong bọc bên ngoài bánh. Cách buộc dây lạc ( lạt) của bánh chưng lễ gồm 4 sợi dây lạc nhuộm đỏ, buộc từng cặp song song và vuông góc với nhau chia bánh chưng thành 9 hình vuông, còn liên quan đến một đồ hình bí ẩn trong văn hoá đông phương cổ đó là cửu cung Hà đồ.

Bánh chưng
Biểu tượng của Ngũ hành tương sinh

Bánh Chưng bánh Dầy – theo truyền thuyết kể lại – đã được chấm giải nhất trong cuộc thi, không phải là ngon hơn các món ăn khác mà là tính biểu tượng cao của nó. Vì vậy, chiếc bánh chưng, bánh dầy không chỉ thể hiện quan niệm vũ trụ quan một cách đơn giản theo cách hiểu của đời sau, khi truyền thuyết này phải xuyên qua thời gian, không gian lịch sử được tính bằng thiên niên kỷ. Bởi vì, nếu bánh chưng, bánh dầy chỉ thể hiện những ý niệm đơn giản như người đời sau quan niệm, thì không chỉ có bánh chưng, bánh dầy mới thể hiện được sự đơn giản đó. Chỉ có sự thể hiện cho thuyết Âm Dương Ngũ hành mới chứng tỏ được tính biểu tượng độc đáo của nó. Với ý nghĩa này thì bánh chưng bánh dầy bao trùm luôn những cách hiểu đơn giản của đời sau. Bởi vì Dương bao gồm: trời, cha... Âm bao gồm: đất, mẹ... Theo quan niệm lý học cổ Đông phương thì Âm Dương hài hòa, Ngũ hành tương sinh là nguồn gốc của sự phú túc, phát triển trong tự nhiên, xã hội và con người.
Bánh chưng, bánh dầy được vua Hùng chấm giải nhất, vì tính biểu tượng độc đáo, thể hiện thuyết Âm Dương Ngũ hành hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống trong nền văn minh Văn Lang.

Những vấn đề về nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành

Theo quan niệm phổ biến hiện nay thì Nho giáo có nguồn gốc từ văn hoá Hán, được tôn vinh vào thời Hán Vũ Đế (159 – 87 tr.CN) và phổ biến ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc – theo truyền thuyết là do Sĩ Nhiếp – đến nay trải gần 1800 năm. Nếu chỉ tính từ khi Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống dưới thời Hậu Lê thì cũng đã hơn 500 năm. Trong hệ thống tư tưởng của Nho giáo phổ biến bằng văn tự Hán ở đất Giao Chỉ, có một hệ thống ý niệm vũ trụ quan cổ đại hết sức huyễn ảo, thể hiện trong kinh Dịch. Từ trước đến nay, kinh Dịch vẫn được coi là sản phẩm của nền văn minh cổ Hoa Hạ, trong đó nói đến sự biến hóa của 64 quẻ Dịch từ thuyết Âm Dương và bản nguyên của vũ trụ là Thái Cực. Cùng với vũ trụ quan Dịch học nói trên là những phương pháp ứng dụng được coi là của một hệ tư tưởng vũ trụ quan khác, không có hệ thống lý luận khởi thủy bản nguyên vũ trụ, đó là thuyết Ngũ hành. Nhưng nếu hệ thống ký hiệu của Dịch học cho đến đầu thế kỷ 20 này phạm vi ứng dụng rất hạn chế, chỉ sử dụng chủ yếu vào việc dự đoán tương lai (hầu hết các nhà nghiên cứu hiện đại cũng cho rằng kinh Dịch ra đời mục đích chủ yếu dùng để bói), thì ngược lại: sự ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành – được coi là sự kết hợp của hai hệ thống vũ trụ quan nói trên – lại hết sức rộng rãi; có thể nói: trên từ thiên văn, dưới đến địa lý, dự đoán tương ai, y lý, lịch số... áp dụng trong các vấn đề tự nhiên, xã hội và con gười hết sức sâu sắc, vi diệu.
Nhưng ở trong cổ thư chữ Hán, thuyết Âm Dương và thuyết gũ hành là hai hệ thống lý thuyết không có sự liên hệ khởi thủy. hững nhà nghiên cứu hiện đại cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hởi nguồn của hai học thuyết này. Thuyết Âm Dương theo truyền huyết được hình thành ít nhất cũng từ thời nhà Chu, sau Chu Văn ương, Chu Công biên soạn Dịch, viết Hào từ. Thuyết Ngũ hành theo truyền thuyết thì do vua Đại Vũ phát hiện trước Chu Công hàng ngàn năm. Riêng Trâu Diễn – theo các nhà nghiên cứu – được coi là người nếu không phải là phát minh thì cũng là người đầu tiên kết hợp giữa hai học thuyết này?

Phải chăng Trâu Diễn là người đề xướng Thuyết Âm Dương - Ngũ Hành

Theo Sử ký và sách Lã Thị Xuân Thu thì thuyết Âm Dương – Ngũ hành do Trâu Diễn sống vào thời Chiến quốc (350 – 270 tr.CN) là người hoàn chỉnh những ý niệm ban đầu của nó và là người sáng lập ra phái Âm Dương gia (nhưng Sử ký và Lã Thị Xuân Thu chỉ cho biết việc này và Trâu Diễn cũng không hề để lại một tác phẩm nào để chứng tỏ Âm Dương Ngũ hành là học thuyết của ông phát minh ra hay chỉ là trình bày lại). Trong khi đó, so sánh thời điểm xuất hiện của tác gia Trâu Diễn với thời điểm mà truyền thuyết Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện của bánh chưng bánh dầy vào cuối thời Hùng Vương thứ VI, sẽ đặt ra một vấn đề sau đây:
Nếu tạm cho rằng các vua Hùng chỉ tồn tại khoảng 400 năm và lấy sự trung bình toán học cho các đời vua Hùng (tạm giả định là 18 vị cách hiểu phổ biến qua truyền thuyết còn lại, thực tế là 18 thời Hùng Vương. Xin được chứng minh ở phần sau) thì từ khi có bánh chưng, bánh dầy đến kết thúc thời đại Hùng Vương sẽ là hơn 200 năm. Cộng với số năm tính từ Văn Lang đổi quốc hiệu là Âu Lạc đến năm chuẩn Công Nguyên (208 tr.CN theo quan niệm mới, sử cũ là 258 tr.CN), chúng ta sẽ có hơn 400 năm tr.CN cho thời gian xuất hiện của thuyết Âm Dương Ngũ hành của tổ tiên người Việt, tức là trước khi nhà Lý học Trâu Diễn nói đến thuyết này gần cả trăm năm. Do đó, như phần trên đã trình bầy thì không phải người sáng lập thuyết Âm Dương Ngũ hành là Trâu Diễn. Ngay những cổ thư chữ Hán, như cuốn sách lý luận Đông y nổi tiếng Hoàng đế nội kinh tố vấn – được coi là xuất hiện vào thời Xuân Thu – Chiến quốc, mà trong đó đã thể hiện sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành một cách rất sâu sắc vi diệu. Sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong nội dung cuốn sách, đã phủ nhận Trâu Diễn không thể là người sáng lập hoặc kết hợp hai học thuyết này.

Thuyết Âm Dương trong thư tịch cổ và truyền thuyết Trung Hoa

Theo sách “Đại cương Triết học Trung Quốc” (sách đã dẫn) viết:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành được ghi ở thiên Hồng phạm trong sách Kim Văn Thượng Thư (sách của bác sĩ nhà Tần là Phục Thắng truyền lại) – thì đề xướng thuyết này không biết đích là ai. Trong thiên chỉ thấy chép rằng: “Cửu trù Hồng phạm” là của Cơ Tử trình bày với vua Võ Vương nhà Chu. Trong Cửu trù Hồng phạm thì trù thứ nhất là Ngũ hành.

Nhưng theo sách Kinh Thư diễn nghĩa (Lê Quý Đôn, dịch giả Ngô Thế Long, Trần Văn Quyền, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1993) thì tương truyền Cửu trù Hồng phạm lại do vua Đại Vũ nhà Hạ (2205 tr.CN) tìm ra (cuốn Kinh Thư được lưu truyền từ thời Hán Cảnh Đế về sau là do Khổng An Quốc - cháu 12 đời của Khổng tử - biên soạn lại.
Tương truyền Khổng An Quốc tìm được cuốn Kinh Thư viết bằng cổ văn trong vách nhà cũ của Khổng tử).
Trên thực tế thuyết Ngũ hành chỉ thật sự được phổ biến bên Trung Hoa từ thời Hán Vũ Đế. Sự kiện này đã được nhắc đến trong Sử ký – Nhật giả liệt truyện như sau:

Hán Vũ Đế (156 - 87 tr.CN) (*) triệu các nhà chiêm tinh lại hỏi gày x, tháng x, cưới vợ được hay không? Người theo thuyết “Ngũ ành” bảo được, người theo thuyết “Kham dư” bảo không được, người heo thuyết “Kiến trừ” bảo xấu, người theo thuyết “Tùng thời” bảo rất ấu, người theo thuyết “Lịch gia” bảo hơi xấu, người theo thuyết Thiên nhân” bảo tốt vừa, người theo thuyết “Thái nhất” bảo đại cát. ranh cãi nhau hồi lâu, đỏ mặt tía tai, không ai chịu ai. Cuối cùng án Vũ Đế phán: mọi điều nên hay kiêng, phải lấy thuyết Ngũ ành là chính, kết thúc buổi tranh luận. Kể từ đó thuyết Ngũ hành ược phát triển.

* Chú thích: năm sinh và mất của Hán Vũ Đế ở trên theo học giả guyễn Tôn Nhan

Thuyết Âm Dương Ngũ hành và những phương pháp ứng dụng ủa nó trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và con người với một thời ian thực tế xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam bằng văn tự Hán đã gần  “100 nhân vật nổi tiếng văn hóa Trung Quốc” Nxb Văn Học 1998 800 năm. Mặc nhiên mọi người đều coi những học thuyết đó thuộc về ự phát hiện của nền văn minh Trung Hoa.

Khái niệm Âm Dương trong kinh Dịch

Như phần trên đã trình bày kinh Dịch là cuốn sách được coi là cổ nhất nói đến thuyết Âm Dương. Khởi thủy của Dịch học theo truyền thuyết bắt đầu từ vua Phục Hy (có niên đại khoảng trên 3500 năm tr.CN; có sách chép 4477 – 4363 tr.CN) qua gần 3000 năm đến Khổng tử thì hoàn chỉnh (theo truyền thuyết và một số thư tịch cổ).

Tương truyền – Vua Phục Hy ngửa xem tượng Trời, cúi xem phép tắc dưới Đất, xem các văn vẻ của chim muông cùng những thích nghi của trời đất. Gần thì lấy thân mình, xa thì lấy ở vật, thế rồi mới làm ra Bát quái (8 quẻ của Dịch học Trung Hoa) (Hệ từ Hạ – Chương II – Chu Dịch Vũ trụ quan – Gs. Lê Văn Quán, Nxb Giáo Dục 1995).

Cũng theo truyền thuyết thì vua Phục Hy là người đầu tiên vạch ra đồ hình Bát quái gọi là Tiên thiên Bát quái và kết hợp lại làm thành 64 quẻ, tạo nên hệ thống ký hiệu đầu tiên của Dịch học Trung Hoa, gọi Hy Dịch. Hy Dịch chỉ có hệ thống ký hiệu không có văn tự (?). Trên thực tế, hệ thống Hy Dịch xuất hiện vào đời Tống (khoảng 1000 năm sau công nguyên) do ngài Thiệu Khang Tiết công bố.

Tiên Thiên bát quái đồ
Theo truyền thuyết do vua Phục Hy sáng tạo

Cũng theo truyền thuyết: Kể từ khi vua Phục Hy làm ra Tiên thiên bát quái, trải hơn 2000 năm sau, đến đời vua Văn Vương nhà Chu khi bị Trụ Vương giam ở ngục Dữu Lý, ngài đã hiệu chỉnh Tiên thiên Bát quái của vua Phục Hy thành Hậu thiên bát quái. Ngài cũng sắp xếp lại thứ tự hệ thống 64 quẻ Tiên thiên Bát quái theo một trình tự mới gọi là hệ thống Hậu thiên Bát quái, hay còn gọi là Chu Dịch và viết rõ nghĩa lại từng quẻ gọi là Soán từ. Con của ngài là Chu Công viết rõ nghĩa từng Hào trong quẻ gọi là Hào từ.
Sau đó gần 700 năm, theo truyền thuyết Khổng tử tiếp tục diễn giải kinh Dịch qua: Thoán truyện (thượng, hạ); Đại Tượng truyện (thượng, hạ); Hệ từ truyện (thượng, hạ); Thuyết Quái truyện; Tự Quái truyện; Tạp Quái truyện; Văn ngôn. Gọi chung là Thập dực.
Căn cứ theo kinh văn của kinh Dịch thì:

 

Biểu tượng dịch học hiện nay

@ Từ vua Phục Hy cho đến đời Chu Văn Vương, Chu công viết Soán từ, Hào từ, trong chính văn chưa thấy nói đến Âm Dương.
@ Cũng theo sách Chu Dịch nói trên, thì khái niệm Âm Dương lần đầu tiên xuất hiện ở Thập dực do Khổng tử khi diễn giải Chu Dịch nói đến. Đó là lời Thoán truyện trong các quẻ: Địa Thiên thái; Thiên Địa bỉ; Đại Hỏa minh di; Trạch Thiên quải. Và trong Hệ từ thượng chương V – tiết thứ nhất, có đoạn viết:

Nhất Âm, Nhất Dương vị chi đạo.

Hệ từ Thượng, chương thứ XI viết:

Thị cố Dịch hữu Thái Cực, Thị Sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái.

Nói tóm lại, theo truyền thuyết thì đến trước thời ngài Khổng tử khái niệm Âm Dương đã xuất hiện như một hiện tượng, nhưng chưa phải là một học thuyết lý giải sự hình thành vũ trụ và sau đó là Thái Cực với tư cách là hiện tượng có trước Âm Dương và là thể bản nguyên của vũ trụ. Các nhà Lý học từ đời Hán về sau, căn cứ trên những hiện tượng này bắt đầu lý giải bản nguyên của vũ trụ. Tuy nhiên, về cách lý giải Thái Cực là gì có thể nói cho đến tận bây giờ các nhà Lý học nói chung vẫn chưa ngã ngũ, như đã trình bày ở phần trên.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...

Báo Tin tức buổi chiều Tây An (Tây An vãn báo) của thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) ngày 25/02/2008 có bài của phóng biên bản báo Hô Diên Tư Chính ...

Phục chế y phục xã hội thời Hùng Vương: Những bằng chứng trên tất cả mọi lĩnh vực: Từ các bản văn cổ của chính Khổng tử, di vật khảo cổ và các ...

Tất cả sự so sánh và minh chứng ở trên đă chứng tỏ rằng: Y phục dân tộc người Việt thời Hùng Vương được phản ánh qua y phục của những nhân vật ...

Những di sản văn hóa phi vật thể, bản văn cổ và khảo cổ liên quanQua sự trình bày ở trên đi đến một sự nhận xét rằng: những hình ảnh con người ở ...

Y phục tầng lớp trên trong thời Hùng Vương: Tất nhiên, trong một xã hội văn minh thời cổ xưa, khi mà trang phục phổ biến của các tầng lớp bình dân đã hoàn ...

Y phục dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộcY phục dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc đó. Nếu như không ...

Lời giới thiệu: Dân tộc Việt Nam với lòng tự hào về một truyền thống gần 5000 văn hiến. Truyền thống đó được ghi trong chính sử Việt (Tính từ 2879 ...