Đối mà bớt sắc thành đôi

Ngày đăng: Thứ ba 09/08/2011 12:00:00 (GMT +7)

Trong dân gian, nhất là trong lớp “teen” mạng bây giờ họ rành Quy tắc tạo từ tiếng Việt (QT) lắm, có lẽ là do từ trong tiềm thức Việt. Ví dụ từ “đi Phượt “ chỉ cả câu: Đi du lịch kiểu “Phớt lờ mà Vượt” mọi trở ngại thiên nhiên và bó buộc của tua truyền thống gọi là đi Phượt, “Phớt lờ mà Vượt”=(lướt)= “Phượt”. Thợ xẻ có từ thợ “Làm lưỡi cưa cũ cho sắc lại như Mới”=(lướt)= “Lỡi”, gọi là thợ Lỡi. Ngày nay dùng máy tự động mài lưỡi cưa, lại không gọi là “máy Lỡi” mà gọi là “máy mài lưỡi cưa tự động”. Dân nuôi tôm ở Cà Mau gọi cái lưới mắt rất nhỏ để quây tôm con ở góc ao là cái “Vzèo” do lấy tiếng Vèo ở từ láy Vòng-Vèo, làm gì có chuyện “Vòng là tiếng đã đem dùng, còn Vèo là tiếng đang chờ chứ chưa sử dụng” như ngôn ngữ học giải thích về từ láy. Vèo là do cái “Võng có mắt nhỏ tí Tẹo”=(lướt)= “Vèo”. Vòng là do cái “Võng có mắt Rộng”=(lướt)=Vòng. Gần đây nông dân ở An Giang nhập ngoại một giống Mít về trồng, trái tròn như trái banh, lại ăn được cả xơ. Họ đã gọi một cách tự nhiên “Mít ăn được cả Xơ”=(lướt)= “Mơ”. Gọi là trái Mơ, vì ở Nam Bộ không có cây mơ ăn trái như Đà Lạt hay ngoài Bắc, chỉ có cây mai để chơi hoa, thành ra trái Mơ này bị đồng âm, dễ lẫn lộn với trái mơ ngoài Bắc. Chính xác thì gọi nó là trái “Mít ăn được cả Xơ mà trái Tròn và Ngon”=(lướt)= “Mơn”, nên gọi nó là trái Mơn, nó họ Mít, cả Xơ ăn cũng Ngon.

Ngôn từ đều xuất xứ từ giới lao động bình dân mà ra, người dân chưa từng bao giờ đợi mượn ngôn từ từ Viện ngôn ngữ. Chỉ có ngữ pháp thì mới được rèn giũa từ giới bác học, nhưng không nhất thiết là từ giới nghiên cứu ngôn ngữ. Ngữ pháp tiếng Nga sỡ dĩ được chặt chẽ như ngày nay, có tới sáu cách, chia động từ, tính từ v.v. lại là do đóng góp công lao lớn của nhà hóa học Men-đê-lê-ép, biến hóa chặt chẽ cứ như là cấu trúc phân tử vậy. Bởi do giới hàn lâm xây dựng ngữ pháp, nên lại dễ bị áp đặt do giới thống trị là ngoại tộc. Hàng ngàn năm, ngữ pháp Hán đã thay dần ngữ pháp Việt trong ngôn ngữ của giới quan lại (ngôn ngữ quan thoại thay dần ngôn ngữ bạch thoại) hình thành Hán ngữ hiện đại hoàn chỉnh và phong phú ngày nay. Điểm khó khăn nhất đối với Hán ngữ hiện đại là dùng Hán tự để phiên âm tiếng nước ngoài, vì mỗi chữ Hán đều có biểu ý của riêng nó, mượn chữ Hán có âm na ná để mà chú âm của một từ nước ngoài (theo cách giả tá) phải công phu chọn chữ nào nó cùng logic mới đạt, nếu biểu ý của nó khác xa nghĩa của từ nước ngoài ấy thì thật phiền. Ví dụ từ mới ngày nay như “hacker” thì chọn mượn từ “Hắc Khách 黑客” để thay, phát âm na ná là “hây khưa”, viết chữ phiên âm là “heike”, nghĩa của Hắc Khách黑客 là “bọn thích khách của xã hội đen”, kể cũng logic. Nếu như ngày xưa thì các nhà ngôn ngữ Việt Nam lại đã ăn sẵn luôn từ Hắc Khách để bưng nguyên xi về dùng rồi. Nay ta dùng luôn là “hac-cơ”, hoặc cũng có thể nhìn vào chữ “hacker” xem cái gen Việt của nó lặn chỗ nào mà gọi luôn “hacker” là bọn “Hay Quấy Cắp”=(lướt)= “Hắp”. Hắp/Hấp là một cặp từ đối, bọn Hắp là bọn “Hùng hổ mà ngăn Nắp” chứ không hâm hâm như bọn Hấp là bọn “Hèn mà hấp Tấp”. Từ mới “fans” nghĩa là người hâm mộ, Hán ngữ hiện đại phiên âm là fensi, phát âm là “phẩn xư”, mượn chữ là Phấn Tơ 粉丝, chữ ấy lại có biểu ý là “sợi bún”, không logic lắm, nên dân mạng lại dùng theo cách giả tá riêng của họ là mượn chữ Phạn 饭viết phiên âm là “fan” phát âm là “phan” biếu ý của chữ Phạn 饭là “cơm”, tôi là cơm của anh, tức tôi sẵn sàng vì anh, nghe hợp lý hơn.Tiếng Việt du nhập nguyên xi “fans”, phát âm là “phan”, lại thường nói là “các phan hâm mộ” thành ra nói thừa, tiếng “phan” nghe chưa logic lắm. Thực ra từ “fans” đã có gen của ngôn từ Việt rồi, ở từ Phạn là một tiếng trong cặp từ đối Phạn/Phản . Phạn là từ lướt của “Phe Bạn”, Phản là từ lướt của “Phe Cản”. “Phe Bạn”= (lướt)= “Phạn” chính là những người ủng hộ đội nhà, ngược với bọn “Phe Cản”= (lướt)= “Phản”. Mọi ngôn ngữ đều nằm trong ngôn từ Việt, để ý thì sẽ nhận ra ngay thôi. Không đến nỗi như Hán ngữ hiện đại phải loay hoay để dịch từ “fans”, lúc đầu dịch là “La la đội” tức là đội hò la, đội cổ vũ, sau thì chính thống đặt là Phấn Tơ粉丝 (sợi bún), vẫn thua dân mạng, họ đặt là Phạn 饭 (cơm), logic hơn. Tiếng Việt thì “phạn” không có nghĩa là cơm, mà “phạn” là cùng “Phe Bạn”=(lướt)= “Phạn”, còn hợp logic hơn là dân mạng tiếng Hoa dùng, vì Phe Bạn với Fans còn dễ coi là đồng nghĩa đen, còn Cơm với Fans chỉ là đồng nghĩa bóng mà thôi. Khổ nỗi Hán ngữ không có qui tắc lướt, vì kết cấu của ngôn từ nó là phụ trước chính sau, ngược với của Việt, ví dụ Phe Bạn thì ở Hán ngữ là Bạn Phe, nều lướt thì thành Be, làm sao giống “fans” được. Do họ không có khái niệm lướt nên hai ngàn năm trước, khi Hứa Thận viết “Thuyết văn giải tự”, là cuốn tự điển đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, Hứa Thận phải giảng giải cách “thiết” để mà đọc chữ nho cho đúng âm Việt, và gọi là “Phiên thiết” tức người Phiên người ta lướt như vậy đấy. Người Phiên là người của những nước phi Hán.Hán ngữ hiện đại tức tiếng phổ thông TQ do âm vực không phong phú như tiếng Việt, từ đồng âm quá nhiều nên khó mà Latin hóa ký tự,bắt buộc phải dùng chữ tượng hình biểu ý, không như các phương ngữ dễ chuyển sang dùng ký tự latin hóa. Ví dụ câu Hán ngữ phát âm là: “Jinshi jinshi jinshi jinshi” bằng chữ phiên âm latin thì làm sao hiểu nổi, ngay cả người Hán. Nhưng khi viết bằng chữ nho 近世 进士 尽是 近视 và đọc như Hứa Thận hướng dẫn thì là: “Cận thế Tiến sĩ Tận thị Cận thị” thì sẽ hiểu được là: Tiến sĩ Thời nay Thảy đều Cận thị.

Những cặp từ đối nguyên thủy thường chỉ là hai tiếng cùng Tơi và cùng Rỡi, chỉ khác nhau thanh điệu.Ví dụ:

Bọ/Bò là Con nhỏ/Con to (con bọ rất nhỏ, nhưng con bò rất to); Bo/Bọ là Hào phóng/ Kẹt xỉ (từ Bo này đã cho gen sang tiếng Tây); Bỏ/Bó là Thả/Giữ , Bõ/Bỏ là Đã công/Uổng công. Chồng/Chống là Đè xuống/Đỡ lên, cũng như Vồ/Vộ là Đè xuống/Đỡ lên. Lấy từ Chồng để gọi người Chồng, lấy từ Vộ để gọi người Vợ, “Vộ chờ”=(lướt)= “Vợ”, vì người Vợ có thiên chức là “Chờ”, cái trứng phải Chờ con tinh trùng đến tụ rồi mời làm Chỗ được, để thành Chửa, để rồi Chứa trong cái dạ con. Đi nằm cũng nằm trước Chờ. Ăn cơm cũng Chờ v.v., nên mới có chuyện cổ tích “Hòn vọng phu” là vậy.

Ò/Ọ là Đưa đi/Đứng lại (cũng giống như Ù/U là Đi/Ở). Ò là “Đưa đi” nên mới có Hò là lời hát đưa đi, “Hát Ò”=(lướt)= “Hò”, vậy nên khi chơi bời thì có Hò đưa duyên, khi chèo thuyền thì có Hò đưa thuyền, khi ru con thì có Hò đưa nôi, khi đưa đám ma thì có Hò đưa linh. Ọ là “Đứng lại” nên mới có Họ là lệnh Đứng lại, đã là lệnh thì phải hét thật to, “Hét Ọ”=(lướt)= “Họ”, nên khi đánh trâu đi đường hay đang cày chỉ cần ra lệnh “Họ ọ ọ ! ” là nó đứng lại ngay. Chưa kịp bước chân lên xe thì xe buýt đã chuyển bánh, khách la :

“ Họ ọ ọ đã nào, làm gì mà vội thế!”

Từ đối mà nói lên hai trạng thái nghịch ĐỨNG/ĐI, nguyên thủy của nó là những từ có Rỡi đơn như Ù/U, Ồ/Ổ

Xét cặp từ đối Ù/U dẫn đến cặp VÙ/VU:

Ở nghĩa ĐI có: Vù=Vời (“xa vời” là khái niệm “đi”)=Chơi (là khái niệm Động=Đi)=CHẦY ( cái Chầy luôn ở trạng thái hoạt động là “đi”, nghịch với trạng thái của cái cối)=Giầy (gọi là đôi giầy vì nó ở trạng thái “đi”)=Dộng (động tác “di cho rộng ra”=dộng)=Rống ( “ra tiếng rộng” tức đưa tiếng “đi” vang xa)=Hồng (làm cho rộng ra, “nạn hồng thủy” là nước “đi” rộng ra)=HÙNG (“hồng cả một vùng”=hùng , tức “đi” mở rộng cả một vùng).

< Vù=Vời=Chơi=Chầy=Giầy=Dộng=Rống=Hồng=Hùng>.

Ở nghĩa ĐỨNG có: Vu=Vuông=VƯƠNG=Vững=Chưng=Cứng (“Kẻ Đứng”=Cứng, “Đóng Cứng”= “Đông Cứng”=Đứng)=Cái=CỐI.

< Vu=Vuông=Vương=Vững=Chưng=Cứng=Cái=Cối>

Chỉ từ hai tiếng của cặp đối VÙ/VU cũng đã thấy được dân CHẦY/CỐI là dân HÙNG/VƯƠNG, là tiền nhân chung của cả hai dòng Việt ở(粤) và Việt đi (越), mà Hán thư thời Xuân Thu gọi là Bách Việt

Trăm nước Việt=Lắm nước Việt= “Lắm Nác” Việt= “Lạc” Việt.

< Đến thời Tần các nước của Lạc Việt đã bị Tần xóa sổ hết, đổi thành quận huyện của nước Tần, chỉ còn lại bộ phận của Lạc Việt ở Lĩnh Nam và Giao Chỉ, nên sách sử viết sau gọi Lạc Việt là một chi của Bách Việt, nhận định ấy vừa đúng lại vừa sai. Đúng bởi nó vẫn là người Lạc Việt, sai vì đó không phải là một chi từ trước, mà là bộ phận Lạc Việt còn lại sau khi đại bộ phận ở phía bắc của nó đã bị Hán hóa hết. Bộ phận còn lại đó sau lập nên nước Nam Việt thời Triệu Đà >

Vậy từ HÙNG VƯƠNG là từ Việt hay từ Hán-Việt ? Người ta cứ hiểu theo “từ Hán-Việt” nên phải dịch nghĩa của nó là Vua Hùng, tức ông vua tên là Hùng hay họ là Hùng. Và vì vậy họ lý giải “18 đời Vua Hùng mà kéo dài 3000 năm thì mỗi ông vua Hùng phải sống đến hơn 166 tuổi ?”. Hiểu theo từ Việt như “QT thì Hùng/ Vương là một xã hội, xã hội của dân Lạc Việt ấy trải qua 18 thời đại kéo dài 3000 năm,mỗi thời đại đều gọi là thời đại Hùng/ Vương của dân Chầy/Cối. Do tín ngưỡng của người Việt là thờ tổ tiên, nên người dân thánh hóa mỗi thời đại thành một ông vua để đưa vào truyện cổ tích truyền miệng.

< Theo QT thì QT=Có Tỏ=Có Thọ=Có Thấy. Vì tiếp nhận (thọ) và thấy cho nên , lại theo QT, La Tinh=Liên Tây=Là Tinh=Là Tỉnh=Là Tiền=Là Tình=Là Mình. Điều này nước Nhật hai trăm năm qua đã chứng minh rồi, là cái logic: Có ngả sang phương Tây thì mới Tinh, có Tinh mới có Tỉnh, có Tỉnh mới có Tiền, có Tiền mới có Tình, có Tình mới là Mình. Việt Nam phải giàu mạnh có Tiền thì thế giới mới yêu, nếu vẫn nghèo tuy tốt tính thì thế giới chỉ thương thôi, tuy thương thì cũng thỉnh thoảng có thí, nhưng như thế thì tội nghiệp lắm. Vì triết lý Âm Dương nên cặp từ đôi Con=Cái, cũng là cặp từ đối Con/Cái ở mặt trái của nó, cũng vậy cặp từ đôi Tiền=Tình, cũng là cặp từ đối Tiền/Tình ở mặt trái của nó. Mặt trái của xã hội thể hiện ở cặp từ đối Làm Tiền/Làm Tình.

Xưng Ta gọi Mình đều là nói cái hồn của một con người : Mình=Tình=Linh=Lòng=Lả=Tá=Ta=Tâm. Còn nói con người cả thể xác cả linh hồn thì đó là từ đôi Thân Mình. Thân là từ cái Kẻ=Thẻ=Thể=Thân=Thần=Mẫn=Mình (cái logic chỉ con người đã đi từ phần xác thịt rồi mới đến phần linh hồn, cũng giống như cái trứng khi thụ tinh thì có khí từ vũ trụ tương tác vào để thành một sự sống mới gồm phần thịt và phần hồn. Bởi vậy người xưa răn rằng khi giao hợp thì không được hành sự ở nơi thờ phượng hay vào lúc đang có giống tố sấm sét), mà cũng theo QT: cái “Thể trên chân”=(lướt)= “Thân”. Từ Mình chính gốc nó là do QT Lướt “Một sinh Linh”= “Mình”. Người Việt vợ chồng hay tình nhân đều gọi nhau là “Mình ơi”, tức gọi cái phần hồn chứ không phải gọi cái phần thịt, tự xưng là Ta, gọi ngôi thứ hai là Mình ( “Mình về có nhớ Ta chăng, Ta về ta nhớ hàm răng Mình cười”) , và tiếng gọi người tình ấy cũng trúng QT Lướt “Một mối Tình”= “Mình”. Từ Mình gốc do con số Một mà ra, Một sinh Linh=Mình. Từ Thân Mình khi xét về một con người thì nó là một từ đôi, có phần thịt và phần hồn, gắn liền với nhau thành một từ giống như từ dính, tức không thể đảo ngược vị trí mà nói là Mình Thân được, phải nói là Thân Mình (đúng với khoa học là thịt có trước, hồn nhập vào sau); nhưng khi xét về cơ thể học thì nó là một từ đối Thân/Mình như là Xác/Hồn.

Từ Mình chính là từ cái Mồi (“Một Người”=”Một Ngôi”=Mồi) để khi cái trứng Mồi ấy đưa vào trong Nôi của QTNở thì nó bắt đầu tách đôi theo cách sinh sản của tế bào: đầu tiên nó Mấp-Máy ( tức bắt đầu Rục-Rịch, Động-Đậy), rồi lớn từ từ là thành Mon-Men, rồi lớn lên là Mới-Mẻ, tách hẳn để nở ra khỏi Nôi thì nó là Ma và Mình, có cặp từ đối Ma/Mình, đó là từ đối nói một hồn người khi ở hai thế giới là Âm thế và Dương thế, ở Âm thế là Ma, ở Dương thế là Mình. Cặp từ đối Ma/Mình này chính sau nâng tính trừu tượng bằng cách làm nhạt nghĩa đi thành cặp từ đôi Ma Mãnh để chỉ tính khí cá nhân người gian xảo cả ban đêm lẫn ban ngày. Cặp từ đối Ma/Mình (một hồn khi ở hai thế nghịch nhau) chữ nho nâng lên thành tính bác học, viết 冥/明 (mà Hán nho đọc là Minh/Minh, không có biết phân biệt là hai tiếng nghĩa Âm Dương khác nhau thì phát âm ra phải thành tiếng khác nhau) nghĩa nó là Tối/Sáng, ngụ ý là Âm thế/Dương Thế.

Từ Ta thì đã thấy rõ trong nôi khái niệm lớn: Mình=Tình=Linh=Lòng=Ly=Lửa=Lả=Tá=Ta=Tâm. Từ nôi này mà ra các từ đôi Tá Lả, Lửa Lòng, Tấm Lòng, Tâm Tình, Tâm Linh, đều là thuộc cái phần hồn của con người. Vì tâm của con người là ngọn lửa của sự sống, do cái khí từ vũ trụ đưa lại. Khí trả lại về vũ trụ thì cái xác còn lại lạnh ngắt cứng đờ.

< Mày=Mi=Mình=Tình=Linh=Lòng=Ly=Lửa=Lả=Tá=Ta=Tau=Tui=Tôi=Tâm. Từ trong gốc gác của từ Ta và Mình (là cái hồn của mỗi người Việt) đã thấy rõ là người Việt là dòng Lửa, là dân Kẻ Lửa tức Quẻ Ly, dân xứ nóng của Viêm Đế. Ngôi nhà sàn cổ xưa của người Việt có bếp lửa ở giữa sàn nhà (như của đồng bào Tây Nguyên vẫn còn) đồng bào ta gọi là “nhà quẻ ly”. Chữ quẻ ly (nghĩa là Lửa) bằng ký tự kẻ vạch là một vạch liền ở trên (kín như mái nhà), một vạch liền ở dưới (kín như nền đất), một vạch đứt thành hai nét kẻ ở giữa (hở như cái sàn ghép bằng nứa), tất cả là bốn nét. Chữ ấy sau được chuyển nghệ thuật hóa thành chữ nho Tâm 心, cũng gồm bốn nét, mà vẽ tượng hình như cái vòng kiềng trên ba ông đầu rau ( “Ba chân kiềng, một vòng cong. Trọn đời giữ một chữ Lòng sắt son”). Dân Quẻ Ly của Viêm Đế thời cổ đại đã định cư ở suốt một dải đất ven biển từ Trung Bộ Việt Nam đến hạ lưu sông Hoàng Hà, mà sử gọi là dòng Cửu Lê, có thủ lĩnh là Xuy Vưu. Vì là dân nông nghiệp lúa nước của ThầnNông, sống định cư, nên còn gọi là Kẻ Ở . “Kẻ Ở”=(lướt)= “Cơ” nên còn gọi là Họ Cơ. Đó là nguyên do tại sao trong cổ sử mọi dòng họ đều qui gốc tổ của mình là từ họ Cơ. Mà từ Họ lại là dòng Hùng To, “Hùng To”=(lướt)= “Họ”. Hùng 雄 là con gà trống (chữ nho gồm bộ Rộng 厷 ý là đất đai rộng lớn và bộ Chim 隹 ), lại cũng là dòng Lửa. Người Hán phát âm chữ Hùng 雄 này là “Xúng”, về sau họ dùng chữ “Xúng 熊” đồng âm nhưng nghĩa là “con gấu” để viết Hùng Vương 雄 王 thành Hùng Vương 熊 王, nghĩa chữ là “vua gấu”, đó chỉ là mượn chữ có âm na ná để phiên âm nhưng không hợp logic nghĩa chữ, cũng có thể do sử gia cố ý viết đểu đề làm mờ và rối lịch sử >

Bởi ví tất cả đều được sinh ra từ Một, như triết lý Vũ Trụ của người Việt: Vũ Trụ ban đầu là một cái Ổ, theo QT Lướt “Từ Ổ”= “Tổ”. Tổ theo QT Nở chia ra Té/Tá, tức từ Ổ mà ra mới có Tá và Té, Tá=Dương, Té=Âm.

Té nghĩa là Nước , là Âm, là Biển Đông , Âm=0 theo số học nhị phân, Âm+Âm=0+0=1= Ầm+Ầm=Ầm Ầm=Động (tính của Âm là Động). < Nước=Nặm=Tắm=Tưới=Té, có lễ hội Té Nước, Té Nước là một từ đôi, về sau chữ nho viết lễ hội ấy bằng một chữ Tế, “Té nước Lã” thành chữ Tế Lễ, Tế Lễ là một từ đôi). Té=Tía=Chia=Ché=Chứa=Cha=(chẵn)=CHẤN (phương của Hà Đồ). Té là Nước, là Âm đã sinh ra Dương là Cha, đó là dòng Rồng (Lạc Long) ở Biển Đông . Trong nôi khai niệm cũng thấy rõ con số 0 được toán nhị phân gọi là con số (chẵn)>

Tá nghĩa là Lửa, là Dương, là lục địa Tây Đông Dương, Dương=1 theo số học nhị phân, Tá+Tá=1+1=0=Tà+Tà=Tà Tà=Tối=Tắt=Tịnh (tính của Dương là Tịnh).

.

Tá là Lửa là từ cổ nhất của người Kinh cổ đại, nguyên thủy ở vùng Trung Nam bán đảo Đông Dương, gọi là người Kinh Nam=Cam, đó là nước Cam đến ranh phía nam của nó gọi là Cam Ranh. Tư duy phương hướng của người Kinh là Ra Bắc, Vô Nam=Về Nam. Người Kinh cổ đại đã khai phá nông nghiệp từ Nam ra Bắc đến tận sông Dương Tử rồi đến đất Sở là người Kinh Sở. Về sau nước Sở là nước hùng mạnh nhất mở rộng địa bàn đến Trung Nguyên, chiếm vùng bằng 18 tỉnh của Trung Hoa ngày nay, kình địch với nước Tần. Sinh ra phương hướng là Tá=Thá=Tả=Tây=Tày=Thái=Sài=Đoài. Thá=Tả, nhà nông Nam Bộ đi cày ra lệnh cho hai con con trâu cùng kéo một cái cày rẽ Trái rẽ Phải tương ứng là “Thá !”, “Dí !”, hai con trâu đó có tên tương ứng là một con tên con Thá, một con tên con Dí. Vì từ Tá nghĩa là Lửa, có Tá=Lả=Chá=Cháy=Chói

< Bằng QT cũng có thể dẫn ra các từ diễn tả một đôi trai gái yêu nhau và hậu quả của nó: Đôi=Ngồi=Ngắm=Nằm=Nắm=Nắn=Nụ=Đụ=Đúc=Đứa=Chửa, những từ ấy đều là cùng nôi khái niệm trong cảnh này vì chúng cùng có mẫu số chung là: sự đồng thuận giữa hai người. Từ Nụ Hôn là một từ đôi, Nụ là hành động do Trai , vì “Nôn nóng Đụ”=(lướt)= “Nụ”. Hôn là hành động do Gái, vì “Ham hơi Ôn”=(lướt)= “Hôn”. Từ Ôn là từ có viết bằng chữ nho về sau, gốc trước của nó là từ Ấm. Cặp từ đối nguyên thủy là Ấm/Âm như Nắng/Nước. Cặp Nắng/Nước còn cho ra Nóng/Nản (Nóng Làm/Nản Làm, cặp từ đôi Lười Nẳn đã theo QT Lướt “Lười Nẳn”= “Lãn”, chữ Lãn này là có sau, viết bằng chữ nho, nghĩa là Lười. Lãn công là do lười mà không chịu làm, còn Bãi công là do cố tình Bỏ để phản đối, chữ Bãi có viết bằng chữ nho, do cặp từ đôi theo QT Lướt “Bỏ Thải”= “Bãi” , Bỏ là từ gốc Việt, Thải là từ gốc Thái Lan. Từ cặp từ đối nguyên thủy Ấm/Âm mà Ấm đã theo QT Lướt “Ấm như Lồn”= “Ôn” ( đó là giải mã của mật ngữ-thành ngữ Việt: “Một người đàn bà bằng ba bếp lửa” ). Cặp Nóng/Nản cho ra cặp Nồng/Nàn, Nàn là nguội hơn, nên có từ ghép Nghèo Nàn tương đương Đói Rách. Từ cặp nguyên thủy là Nắng/Nước, đến sinh ra đời con là Nóng/Nản, rồi sinh ra đời cháu là Nồng/Nàn rõ ràng là cái gen đã phai đi nhiều, tức cái độ đậm của nghĩa đã bị nhạt đi , nên Nồng Nàn thành gần như là một từ đôi chứ không còn đối nữa. Muốn cho nó quay lại đậm nghĩa như trước, phải thay Tơi cho nó, như thay Đực khác để lai giống nhằm tránh bị dần dần thoái hóa giống, xa hơn thì sẽ mạnh hơn. Do vậy cặp Cặp Nồng /Nàn được thay Tơi, cho ra cặp Hồng/Hàn tương đương với Lửa/ Lạnh . Từ đối diễn tả sự trái ngược hoàn toàn, nhưng từ đôi thì như 0+1=1 hay 1+0=1 tức “nhiều” nhưng chỉ là nhiều của nghĩa của tiếng đứng vị trí trước, từ đôi Nồng Nàn ý là nhiều Nồng hơn, cũng như từ đôi Gà Qué ý là nhiều Gà hơn, chứ không thể là nhiều Qué hơn được>

Bài viết cùng chuyên mục

Từ là một Lời, tức có mang một nghĩa hoàn chỉnh. Ở ngôn ngữ Việt Nam, Từ cơ bản chỉ là một Tiếng (đơn âm tiết, coi như là một cái Tế để tạo thành ...

Ta có thể học ngôn ngữ thế giới bằng tiếng Việt (Tiếng Việt Huyền Diệu), dĩ nhiên trong đó có tiếng Trung Hoa. Học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt lại ...

Cái Bánh Chưng của người Việt Nam quả thật là một sự Hòa Hợp. Bài trước tôi đã theo QT giải thích chữ Hòa 和là “Hột Lúa trồng ở ruộng của ...

Thế nào là những từ thuần Việt? Chúng ta thường phân biệt tiếng Hán Việt và tiếng Nôm. Tiếng Nôm có nghĩa là tiếng Nam là thứ tiếng riêng của chúng ta, ...

Tôi đã khám phá ra có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Nhân dịp Xuân Con Mèo về, xin đối chiếu sự liên hệ này qua câu ...

Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là ...

Cũng như đa số những ngôn ngữ khác, tiếng Việt cũng có hiện tượng đọc nối và nuốt chữ. Đọc nối là một nhu cầu thiết yếu của tiếng nói. Đọc nối ...

Bài nói chuyện tại HỘI NGHỊ THẾ GIỚI VỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG VIỆT LẦN THỨ NHẤT NĂM 2006 TẠI MELBOURNE- ÚC CHÂU

Cho đến nay nhiều sử sách ghi rằng, khi Hạ Vũ được Đế Thuấn truyền ngôi, vì Vũ người Việt, người Hán không chấp nhận đã nổi lên làm loạn phản ...

Trẻ sơ sinh khóc ra tiếng đầu tiên là A. Người mẹ Việt Nam từ hàng vạn năm trước dù biết chữ, hay ở “vùng sâu vùng xa” không biết chữ, thì vẫn dạy ...