Cổ Loa: Một đô thị quan trọng thời cổ đại

Ngày đăng: Thứ ba 29/05/2012 12:00:00 (GMT +7)

Sử cũ cho hay, năm 257 TCN Thục Phán đã thôn tính nước Văn Lang và lập nên nước Âu Lạc đóng đô ở Phong Khê (nay là Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội). Bao thế kỷ trôi qua kể từ khi Kinh đô được định ở Bạch Hạc (khoảng thế kỷ VII TCN) cho tới khi Kinh đô được dời về Cổ Loa.
Trong khoảng thời gian ấy, phù sa của mạng lưới sông Hồng đã bồi lấp rất nhiều vùng đầm hồ miền châu thổ. Những con sông luôn đổi dòng để lại những thềm cổ mà di tích dễ nhìn thấy là những gò đống thấp cao, dài ngắn trên những miền đất phẳng ngày nay trở thành những cánh đồng lúa rộng mênh mông.

Ngay từ thời các vua Hùng, nhiều lớp người đã lấn sâu về phía biển. Họ phá rẫy làm nương, cấy lúa và đánh cá sinh sống. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện và tiến hành khai quật nhiều di chỉ khảo cổ học thời đại kim khí phân bố rải rác trên các đồi gò vùng châu thổ. Các nhà địa chất cho rằng, vào thời kỳ này khu vực Cổ Loa là bãi bồi, thềm bậc 1 của sông Hồng. Những gò đống quanh vùng Cổ Loa là những thềm sót của sông xưa. Xung quanh Cổ Loa có nhiều đầm, nhiều vực đó là di tích của dòng sông cũ do đã đổi dòng mà để lại.

Cổ Loa tự thân là một vùng đất màu mỡ ven sông Giang, một nhánh của sông Hồng chảy từ miền Yên Lãng (Vĩnh Phúc) qua đầm Vân Trì, qua Cổ Loa ngược lên phía Bắc rồi đổ vào sông Cầu. Địa thế Cổ Loa rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội, điều đó đã hội tụ rất nhiều cư dân đến đây sinh sống. Những công cụ bằng đá, bằng đồng và rất nhiều đồ trang sức bằng đá được trau chuốt hết sức tinh vi, đẹp đẽ mà các nhà khảo cổ học đã khai quật được ở khu vực này khẳng định nền văn minh của cư dân thuở ấy.

Về địa danh Cổ Loa có từ đâu và từ bao giờ, trong cuốn An Nam chí lược (thế kỷ XIV) chép: "Thành Việt Vương tục gọi là thành Khả Lũ có ao cổ. Người trong nước mỗi năm tìm được ngọc châu, dùng nước ao ấy để rửa ngọc thì sắc ngọc tươi đẹp". Cuốn Đại Việt sử lược (cuối thế kỷ XIV) nói: "Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương". Cho tới thế kỷ XV, địa danh Loa Thành mới xuất hiện.

An Nam chí nguyên và Việt Kiệu thư chép: "Việt Thường ở huyện Đông Ngạn, còn gọi là Loa Thành". Hai sách này giải thích: "An Dương Vương đóng đô ở đất Việt nên người đời sau gọi thành ấy là Việt Vương thành". "Có tên Loa thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc".

Các sách Lĩnh Nam chích quái, Dư địa chí (của Nguyễn Trãi), Đại Việt Sử ký toàn thư đều có nói tới Loa thành và còn đưa ra thêm tên gọi là thành Lư Long, thành Côn Lôn.

Nhân dân địa phương thì cứ truyền đời gọi Cổ Loa là Chạ Chủ (chạ có nghĩa là làng). Người ta không biết cái tên này có từ bao giờ mà chỉ biết rằng đó là cái tên cổ nhất. Người Việt còn có cách gọi làng xóm là "kẻ", Chạ Chủ được gọi là Kẻ Chủ. Tên nôm Kẻ Chủ phiên ra chữ Hán là Khả Lũ, như đã thấy trong An Nam chí lược.

Tới thế kỷ XIX Phương đình Nguyễn Siêu, người đầu tiên tỏ ý không công nhận An Dương Vương là con vua Thục. Rồi Ngô Tất Tố cho rằng: "Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục", thành Cổ Loa hoặc do Mã Viện hoặc do Ngô Quyền xây đắp. Còn cụ Đào Duy Anh thì cho rằng: Tên Loa Thành do người Trung Quốc đặt ra, có lẽ từ thời Tống, di tích hiện tại có lẫn cả Kiển thành do Mã Viện đắp và thành cũ của An Dương Vương.
Trên tường thành cũ của An Dương Vương có phần xây dựng của quân Hán mà đặc biệt dễ nhận ra là phần mái lợp trên mặt thành cho quân sĩ tránh mưa nắng khi canh gác.

Vòng thành trong cùng hình chữ nhật có 12 hỏa hồi cân đối nhô ra khỏi bốn mặt tường thành là phần công sự kiểu Hán do quân Hán đắp sau khi lập huyện Phong Khê. Đây chính là cái ruột con kén của Kiến thành do Mã Viện đắp.

Về mặt niên đại của Cổ Loa, chúng ta có thể biết được gần như chính xác bởi những tư liệu do các nhà khảo cổ học khai quật được ở đây. Những viên gạch xây mộ có in niên hiệu như Vĩnh Nguyên thập nhất trị (làm năm thứ 11 niên hiệu Vĩnh Nguyên tức năm 99), Vĩnh Sơ ngũ niên trung trị đại hình chuyên (gạch cỡ lớn làm năm thứ năm, niên hiệu Vĩnh Sơ, tức năm 111) và dĩ nhiên tuổi của những ngôi mộ chôn ở đây không thể sớm hơn năm 111. Như vậy, mộ được chôn vào thời Đông Hán, khoảng 300 năm sau khi đắp thành Khả Lũ của An Dương Vương.

Sử cũ còn chép sự việc Ngô Quyền tự lập làm vua, đóng đô ở Loa thành từ năm 939 - 944 khi Ngô Quyền mất. Triều đại Ngô vương đóng đô ở Cổ Loa 6 năm nhưng không để lại dấu vết gì trên khu vực này. Vai trò quốc đô của Cổ Loa vĩnh viễn chấm dứt ở đây.

Như vậy, đô thị Cổ Loa đã tồn tại và phát triển qua các thời đại:
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế và quân sự của cả nước và là một đô thị cổ nhất trong lịch sử Việt Nam. Một vùng dân cư đông đúc mà việc tổ chức cư trú có quy hoạch tương đối rõ ràng, khu triều đình, khu quân sĩ, khu dân cư, một vùng văn hoá cao; Một vùng ngoài việc sản xuất lương thực, thực phẩm như mọi nơi khác thì ở đây còn có những hoạt động sản xuất khác như xây dựng, đúc đồng, nung gốm, làm đồ trang sức... mà những người sản xuất có trình độ cao; Một vùng mà luôn luôn có hàng vạn người cầm vũ khí làm nhiệm vụ canh phòng đòi hỏi hàng loạt những người khác phải có những sự trao đổi về hàng hoá sản vật về lương thực, thực phẩm. Điều đó khiến Cổ Loa vốn là kinh đô lại là một đô thị sớm nhất còn có đủ di tích, di vật có thể nghiên cứu một cách đầy đủ trong lịch sử nước ta.

Năm 43, Mã Viện sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã chia huyện Tây Vu làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải, Cổ Loa thuộc địa phận huyện Phong Khê. Và cũng do Cổ Loa là đô thị sầm uất thời nhà nước Âu Lạc, nó vẫn là một trung tâm quan trọng cả về địa lý, dân cư, kinh tế và văn hoá. Mã Viện lại chọn nơi đây xây thành đắp luỹ lập làm trị sở huyện Phong Khê. Lúc này Cổ Loa còn sầm uất hơn cả Cổ Loa thời xưa.

Cổ Loa trở thành trị sở Phong Khê, dân cư càng đông đúc, nghề thủ công phát triển nhanh hơn, đặc biệt là nghề sản xuất vật liệu xây dựng. Để phục vụ bọn quan lại thống trị và nuôi sống các phu phen tạp dịch, vật phẩm vận chuyển tới Cổ Loa chủ yếu dưới hình thức trưng tập là chính. Chưa có bằng chứng để nói rằng nơi đây là một thị trường trao đổi hàng hoá theo kiểu thương nghiệp, chưa có những hoạt động công thương phát đạt. Tóm lại, Cổ Loa đã bao lần nổi lên là một đô thị quan trọng thời cổ đại, nhưng chỉ là "đô" còn phần thị thì chưa rõ ràng.

Bài viết cùng chuyên mục

Kho rồng ( 21/05/2012)

Thật là lạ trong thập nhị địa chi tương ứng vơi 12 con vật biểu tượng thì có mỗi rồng là không có ngoài đời thực. Thế nhưng rồng lại xuất hiện ...

Một trò chơi của trẻ em rất phổ biến trong dân gian Việt có thể đang ẩn giấu phía sau nó những mật mã có thể làm sáng tỏ hơn cho một lý thuyết học ...

Quan niệm cho rằng cuộc sống là dấu hiệu của trời và đất, rằng ăn và uống làm cho mầm sống lớn mạnh, rằng trong chuyện ăn bao hàm sự toàn thiện và ...

Tại thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế) có 1 giếng rất độc đáo mang tên Hàm Long (miệng của con rồng) trên quốc tự Báo Quốc với truyền thuyết gắn ...

Trong những truyền thuyết liên quan tới tín ngưỡng thờ phụng đã đi vào tâm khảm của người Việt Nam, thì “Tứ bất tử” được coi là một tín ngưỡng ...

Kho rồng ( 31/01/2012)

Thật là lạ trong thập nhị địa chi tương ứng vơi 12 con vật biểu tượng thì có mỗi rồng là không có ngoài đời thực. Thế nhưng rồng lại xuất hiện ...

Trong quan niệm người Việt, rồng luôn là con vật linh thiêng, biểu tượng cho quyền uy, sức mạnh. Và hình ảnh "lưỡng long chầu nguyệt" trên các mái đình ...

Vua Hùng - vị Vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, “Thánh Vương ngàn đời của Cổ Việt”. Các thế hệ người Việt Nam đương đại mặc nhiên thừa nhận và ...

Rượu ( 22/11/2011)

RƯỢU GẠO - Rượu cũ bình mới: Âm Dương như Cốt với Bình Cốt là Ruột Rượu, Bình là cái da Dương ngoài biến đổi xông pha Âm trong giữ mãi Nếp nhà cho ...

"Loại đàn bà tàn nhẫn, vì muốn ít con cái để giữ lấy nhiều của, hoặc ngại việc sinh đẻ, muốn tránh khó nhọc, thấy mình có thai, dùng kế cho sẩy thai, ...