Tử vi tinh điển (phần 4) - Luận về Thiên Không Thiên Việt

Ngày đăng: Thứ năm 10/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Nếu Xương Khúc chủ khoa danh rồi thì lại Khôi Việt cũng khoa danh thì ý nghĩa trở thành lẫn lộn. Thật ra cổ nhân có phân biệt, Xương Khúc thì thông minh tài trí, văn chương học vấn, còn Khôi Việt thì tạo đất dụng võ cho thông minh tài trí và văn chương học vấn. Thi cử Xương Khúc có lợi, nhưng ra làm việc Khôi Việt mới thuận.

Có câu phú rằng:

"Khoa Quyền ngộ Khôi Việt dị thành công
Xương Khúc hữu Âm Dương nhi đắc lực"

Nghĩa là Khoa Quyền được Khôi Việt dễ thành công hơn, và Xương Khúc gặp Nhật Nguyệt đắc lực hơn.

Thiên Khôi đi theo đường chánh, Thiên Việt đi với dị lộ (dị lộ không phải là đường tà mà là đường khác người).
Qua bảng thần thoại theo truyền thuyết Thiên Khôi cầm bút chu sa ghi tên những ai đăng khoa xuất sĩ. Bởi thế khi các sĩ tử đi thi thường làm cỗ cúng Thiên Khôi tinh. Thi đỗ rồi con đường trước mắt là xuất sĩ.

Phần Thiên Việt nếu đi cặp được với Thiên Khôi thì mới vào chánh đạo. Thiên Việt đứng một mình thường chỉ gặp những cơ hội nhỏ thôi.

Thiên Khôi thuộc dương hỏa tốt hơn cho người sinh ban ngày vì Thiên Khôi là nhật quí. Thiên Khôi tạo khuôn mặt sáng sủa cho con người.

Thiên Việt thuộc âm hỏa tốt hơn với người sinh ban đêm có phong thái đĩnh đạc. Thiên Việt mang thêm tính chất đào hoa, gặp Thiên Riêu Đào Hoa càng đa tình. Nhưng Thiên Việt gặp Hồng Loan cổ nhân gọi bằng “hồ đồ đào hoa” hay yêu sảng, nhất là phái nữ.

Khôi Việt một đóng ở Mệnh, một đóng ở Thê mà Thân cư Thê gia hội các cát tinh khác thì đỗ đạt sớm, lấy vợ đẹp xinh. Nếu không hội hợp cát tinh tất khoa danh lận đận, nhưng chuyện vợ đẹp xinh vẫn không thay đổi.

Sách có câu: “Tuy phú quí nhi bất miễn dâm dật” để nói về Khôi Việt đối với nữ mạng. Trên thực tế kinh nghiệm chỉ có gặp ác sát Không Kiếp thì mới dâm dật chứ không phải cứ Khôi Việt là dâm dật.

Khôi Việt một ở Sửu, một ở Mùi, Mệnh với Thiên Di cách gọi bằng tọa quí hướng quí. Tốt hay xấu còn phải tùy thuộc vào chính tinh tại Mệnh cung. Nếu có các sao tốt thì bất luận trai hay gái đều giàu sang. Nhưng cách tọa hướng quí kể như là một cách đào hoa vậy.

Khôi Việt còn có lưu Khôi lưu Việt theo vận hạn mỗi năm. Tỉ dụ người tuổi Giáp, Thiên Khôi đóng Sửu, Thiên Việt đóng Mùi gặp lưu niên vận hạn Giáp Mậu Canh tất nhiên được thêm lưu Khôi lưu Việt, hỉ khánh tăng lên tùy theo cung nào có chúng. Như ở Thê cung mà gặp năm lưu Khôi lưu Việt thì chuyện lấy vợ càng rõ ràng, nếu cung Tử Tức thì chuyện có con càng chắc chắn được Khôi Việt hiệp, cũng cần có lưu Khôi lưu Việt thì lực lượng mới phát huy.
Tỉ dụ người tuổi Đinh Thiên Khôi đóng Hợi, Thiên Việt đóng Dậu Thìn Tuất là cung Khôi Việt hiệp, vận năm Bính Khôi lưu tới Hợi, Việt lưu đến Dậu gọi bằng lưỡng trùng Khôi Việt thì cơ hội tốt đẹp đến nhiều hơn.

Khôi Việt cần đi đôi, đi đôi rồi lại cần trùng điệp mới hay. Khôi Việt hiệp Mệnh rất hợp với hai sao Tử Vi Thiên Tướng. Người Mệnh Tử Vi Thiên Tướng vốn đã mang sẵn lắm khuyết điểm. Nhưng nếu có Khôi Việt hiệp sẽ hóa giải những khuyết điểm ấy. Khôi Việt đứng đối nhau rất hợp với Thái Âm Thái Dương.

Nhật Nguyệt tọa Mệnh cung có nhiều khuyết điểm, cuộc đời khó thuận buồm xuôi gió, gặp Khôi Việt đối nhau tất thi cử dễ dàng hơn, đồng thời gặp quí nhân đề bạt đẩy chức phận lên cao.

Khôi Việt đóng Thân, Tí rất hợp với sao Vũ Khúc, Vũ Khúc đi cùng Hóa Lộc càng tốt nữa, ắt thành công trên mặt kinh doanh. Khôi Việt ở Dần Ngọ rất hợp với Cự Môn ở Tuất, sách gọi bằng “phản bối” cách, cách này thường gặp những kỳ ngộ về may mắn.

Khôi Việt không bao giờ đóng ở Thìn và Tuất, cổ nhân viện lẽ rằng quí nhân không đi vào đất la võng. Tính chất tế nhị của Khôi Việt không chịu đựng nổi sức ép của lưới trời lưới đất.

Một điều cần chú ý Khôi Việt ở Sửu Mùi. Hai cung chỉ kể làm vượng địa chứ không phải miếu địa cho quí nhân. Sách Đẩu Số Toàn Thư viết nếu ngoài bốn chục tuổi mà gặp hạn Khôi Việt Sửu Mùi thì gọi bằng “quí nhân nhập mộ” chẳng những không là cơ hội tốt mà biến ra những cái họa mai phục, ẩn dấu.

Câu: “Khôi Việt trùng phùng kiêm sát tấu, cố tật vưu đa” (gặp trùng điệp Khôi Việt ở đây thêm sát tinh nữa ắt sẽ bị bệnh thành tật không khỏi). Như vậy ngoài bốn chục tuổi lưu niên và đại hạn đi vào Sửu Mùi có Khôi Việt rồi lại lưu Khôi Việt thêm Hỏa Linh Dương Đà thì bệnh tật triền miên.

Đời xưa tuổi thọ trung bình so với đời nay ngắn hơn, bởi vậy cổ nhân mới lấy bốn chục tuổi làm chuẩn. Thời đại nay tuổi thọ trung bình cao hơn nên tính từ ngoài năm mươi mới đúng.

Ngoài bốn chục gặp Khôi Việt trùng phùng đi cặp với những sao Đào Hoa thì Khôi Việt hoá thân thành đào hoa, nam hay nữ đều gặp những cuộc tình ngoại hôn, hoặc bấy giờ mới lấy chồng, lấy vợ. Khôi Việt chủ về đào hoa, nhưng chỉ vào cung Phúc Đức hay Phu Thê mới kể, còn vào Mệnh cung không phải.

Tỉ dụ Phúc Đức ở Tí, Phu Thê ở Thân, người tuổi Ất tuổi Kỷ Khôi Việt đóng Tí Thân, nếu hai cung này xuất hiện Thiên Riêu, Mộc Dục, Đào Hoa, đương nhiên Khôi Việt chuyển thành đào hoa tinh.. Sau đó mới phối hợp chính diệu của các cung Phối với Phúc để mà đoán định. Giả như cung Phúc có Thiên Đồng, Thái Âm thì đoán rằng do ý chí mềm yếu mà gặp đau khổ duyên tình. Nếu có Vũ Khúc Thiên Phủ thì đoán rằng có quan hệ với một người đã có gia đình.

Trường hợp chính tinh vững vàng lại có Lộc thì thành cách lấy vợ giàu. Tỉ dụ Phúc Đức là Tử Vi, Phố cung là Vũ Khúc Hóa Lộc, rồi Mệnh cung lại gặp Lộc Tồn. Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, Khôi Việt đơn thủ mà gặp hung sát tinh ắt bị thương hoặc có tật.

Khôi Việt gặp Hoả Linh lắm tai ương, Khôi Việt gặp Không Kiếp trở nên vô dụng.

Những câu phú cần biết thêm về hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt:
- Khôi Việt Mệnh Thân vi trưởng tử
(Mệnh Thiên Khôi, Thân Thiên Việt thường là con trưởng hoặc nắm quyền trưởng)

- Khôi Việt nhập Thân ư gia quốc tất vi nhân trưởng
(Khôi Việt đóng Thân thường ở địa vị đàn anh)

- Khôi Việt Mệnh Thân đa triết quế
(Có Khôi Việt ở Mệnh Thân thì đỗ đạt cao)

- Thiên Khôi Thiên Việt cái thế văn chương
(Khôi Việt vào Mệnh học hành uyên bác)

- Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn phù hình, sát vô xung đa phú quí
(Mệnh phù trợ bởi Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn, mà không bị sát tinh xung phá ắt giàu sang)

- Khôi Việt đa văn ngộ Đà Kị thiên di dật sĩ
(Khôi Việt gặp Kình Đà từ cung Thiên Di, tài giỏi nhưng ẩn dật)

- Khôi Xương Tả Hữu tương hội hợp, phụ long phan phượng thượng cửu trùng
(Thiên Khôi, Văn Xương, Tả Phụ, Hữu Bật hội tụ vào Mệnh, được người đề bạt mà hiển vinh)

- Tả Hữu Khôi Việt vi phúc thọ
(Mệnh có Tả Hữu, Khôi Việt vừa có phúc vừa thọ

- Khôi Việt đan thủ tử hữu quí
(Cung tử tức Khôi Việt đơn thủ sinh con tài giỏi)

- Thiên Khôi Thiên Việt, phu phụ mỹ lệ
(Phối cung có Khôi Việt lấy vợ đẹp hoặc chồng bảnh)

- Khôi Việt đan thủ Tài Bạch thanh cao, nhất sinh toại ý
(Cung Tài Bạch có Khôi Việt thì thanh cao sang trọng mà không giàu có)

- "Sao Quan Phúc cùng Khôi tinh
Đóng vào Thân Mệnh đề danh bảng rồng"

(Quan Phúc đây là Thiên Quan Thiên Phúc)

-" Việt Khôi Quyền Lộc trong ngoài
Trưởng nam trưởng nữ gái trai đồng bàn"

- "Việt Khôi Long Phượng Khúc Xương
Ngộ Khoa ắt hẳn bẻ cành quế hoa"

- "Việt Khôi, Lương Tướng quí trung
Ắt là con giống cháu dòng chẳng sai"

- "Khôi ngộ Kị trên đầu có tật
Vượng ngộ Khôi thật lắm nốt ruồi"

- "Cung tử tức trong ngoài Khôi Việt
Hẳn sinh người hào kiệt khoa danh'

- 'Lưỡng Quí phùng Tử Vi Đoài Chấn
Ắt sinh con cầu tự chẳng sai"

(Khôi Việt gặp Tử Vi ở Mão với Dậu thì có con cầu tự)

-" Việt Khôi là cách văn chương
Khôi là khôi ngộ, Việt thường da đen"

- "Khôi Việt miếu vượng trưởng huynh
Gia đình xã hội hẳn dành ngôi trên"

- "Việt Linh Hình hội Cơ Lương
Hoặc là Nhật Nguyệt ắt chờ lôi kinh"

(Lôi kinh là bị sét đánh hay điện giật)

- "Ân Quí Khôi Việt Đào HồNg
Trai cận cửu trùng gái tất cung phi"

- "Việt Khôi Quyền Lộc khá bàn
Trong nhà bậc trưởng ra đàng bậc trên"

-" Việt Khôi Quyền Tướng đáng yêu
Lại gia Tử Phủ mọi chiều vinh quang"

(Những sao nói trên hội vào Phu Thê cung)

- "Cự Kị nên tránh đò sông
Phục Binh Hình Việt mắc vòng gươm đao
Hỏa Linh Hình Việt khác nào
Không bị sét đánh búa dao có ngày"

- "Việt Khôi là cách ung dung
Việt thường nhờ bạn, Khôi thường gặp sang."

(Câu trên nói về Khôi Việt đóng cung Thiên Di)

- "Khôi Khoa Xương Khúc Tấu Thư
Phát đà văn học có dư anh tài"

(Khôi Việt Xương Khúc Tấu Thư ở cung Phúc Đức)

- "Cung giải mà ngộ Khôi Hình
Số người phải mắc pháp hình đau thương"

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tử vi tinh điển
  2. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Cơ
  3. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tử vi
  4. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái Dương
  5. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Vũ Khúc
  6. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Đồng
  7. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Tướng
  8. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Liêm Trinh
  9. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Phú
  10. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Cự Môn
  11. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái âm
  12. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tham Lang
  13. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Lương
  14. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thất Sát
  15. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Phá Quân
  16. Tử vi tinh điển (phần 2) - Những sao cấp hai
  17. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Xương Khúc
  18. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tả Phụ Hữu Bậc
  19. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tam Thai Bát tọa
  20. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận vể Hỏa Tinh và Linh Tinh
  21. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Kình Dương Đà La
  22. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Địa Không Địa Kiếp
  23. Tử vi tinh điển (phần 3) - Những sao cấp 3
  24. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Tuần Triệt
  25. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Long Trì Phượng Các
  26. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Ấn Quang Thiên Quí
  27. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Khốc Thiên Hư
  28. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Hình
  29. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Riệu
  30. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Kiếp Sát
  31. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hông Loan Thiên Hỷ
  32. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Sao Đào Hoa
  33. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hoa cái
  34. Tử vi tinh điển (phần 3) - Nói về Vòng Tướng Tinh
  35. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Vòng Tràng Sinh
  36. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Đại Hao
  37. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Quan Phủ
  38. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Dương
  39. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Âm
  40. Tử vi tinh điển (phần 4) - Ngũ hành ở thuộc của các Tạp Diệu

Bài viết cùng chuyên mục

IX.- Kết luận: Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra không ...

VIII- Dị biệt chính, Nam phái. 1.- Sự khác biệt về số sao: 1.1. Bộ Tử-vi chính nghĩa: Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song trong mục dạy an sao ...

VII. Khoa Tử-vi các đời sau: Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu họ Trần tản mác đi khắp nơi, có người dùng khoa Tử-vi làm kế sinh nhai, khoa ...

VI.- Khoa Tử-vi đời trần. 1.- Trường hợp được trọng dụng: Khoa Tử-vi được triều Trần biết đến trong một dịp đặt biệt: Thái-tử Hoảng bị bệnh mê ...

IV. Khoa Tử-vi sau Hi-Di: Hi-Di tiên sinh chết không chỉ định ai làm chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai nấy nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính ...

III.- Khoa Tử-vi đời Tống: Tống Thái-tổ được truyền khoa Tử-vi bằng bộ Tử-vi chính nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ ...

II.- Nguồn gốc khoa Tử-vi: Về nguồn gốc khoa Tử-vi thì bộ Tử-vi kinh tức Tử-vi chính nghĩa, phần Hy Di tiên sinh liệt truyện viết :

I.- Thư tịch về khoa Tử-viKhoa Tử-vi bắt nguồn từ thời nào ? Ai là người khai sáng ra nó, cho đến nay sử sách không ghi lại. Các Tử-vi gia thường chỉ chú ý ...

Lịch sử khoa tử vi ( 08/04/2008)

Lời giới thiệu: Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra ...