Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 8

Ngày đăng: Thứ hai 23/06/2008 12:00:00 (GMT +7)


Điều kiện cần tiếp theo để chứng tỏ tính hợp lý của những luận điểm đã trình bày là: sự lý giải mục đích ra đời của kinh Dịch. Đây cũng là một đề tài tranh luận kéo dài nhưng chưa đi đến một kết luận thỏa đáng, như đã trình bày ở trên. Vì nền văn minh Văn Lang là chủ nhân của sự sáng tạo ra kinh Dịch nên phải biết được mục đích việc làm của mình.
Sự tương quan hợp lý giữa các vấn đề đã chứng tỏ rằng: mục đích ra đời của kinh Dịch đã được diễn tả một cách chu đáo ngay trong phần Thập dực. Nhưng sự lý giải này chỉ hợp lý với một tiền đề là: kinh Dịch là siêu công thức vũ trụ quan. Nếu không xuất phát từ tiền đề này, thì những đoạn trích dẫn trong Hệ từ của phần Thập dực dưới đây sẽ rất khó hiểu – và không có cơ sở để cho rằng: nội dung của nó nói về mục đích xuất hiện của kinh Dịch. Trong những đoạn trích dẫn từ Hệ từ của Thập dực dưới đây đã được sắp xếp lại; thứ tự cũ được ghi ở đầu mỗi đoạn trích dẫn để bạn đọc tiện việc tham khảo, đối chiếu; sau mỗi đoạn trích dẫn là phần trình bày từ quan niệm nhất quán cho rằng: kinh Dịch là siêu công thức vũ trụ quan của thuyết Âm dương Ngũ hành.

Hệ từ thượng truyện
Chương V – Tiết 2: Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố; nguyên thủy phản chung, cố tri tử sanh chi thuyết; tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng.

Ngưỡng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối. Quay về nguyên thủy của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết. Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn thoát ra tạo nên biến hóa, nên biết được tình trạng của quỷ thần.

Bắt đầu từ sự tổng hợp nhận thức về qui luật tự nhiên, phát hiện ra Âm dương là nguyên lý căn bản của mọi hiện tượng (cái cớ của sáng tối); từ đó suy ra từ sự hình thành khởi nguyên của vũ trụ (quay về nguyên thủy của vạn vật) cho đến sự huỷ diệt (bài học về sống chết); phát hiện nguyên lý hình thành vạn vật và chu kỳ vận động của mọi hiện tượng.

Chương V – Tiết 1: Dịch, dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên địa chi đạo.
Kinh Dịch chứa đựng mức thước của trời đất, nên cho ta hiểu đạo và trật tự của trời đất.

Kinh Dịch là hệ quả của sự tổng hợp những nhận thức về mọi sự vận động trong vũ trụ; do đó, kinh Dịch phản ánh mọi qui luật vận động của vũ trụ.

Chương IV – Tiết 4: phạm vi thiên địa chi hóa, nhi bất quá; khúc thành vạn vật, nhi bất di; thông hồ trú dạ chi đạo, nhi tri; cố thần vô phương, nhi Dịch vô thể.

Gồm cả khuôn khổ biến hóa của trời đất nên không có gì thoát khỏi. Hoàn thành mọi vật mà không bỏ sót vật gì. Thâm nhập vào đạo, ngày đêm mà biết hết, cho nên cái thần không bị hạn chế nơi nào cả, kinh Dịch cũng không bị giới hạn trong bất cứ hình thể nào.

Kinh Dịch là một siêu công thức vũ trụ quan, cho nên có một giá trị tổng hợp (thần không bị hạn chế nơi nào cả) và cũng không thể giới hạn kinh Dịch vào một giá trị cụ thể (Tức là không phải là sách sử, sách đạo đức, sách bói…).

Chương I – Tiết 8: Dị giản, nhi thiên hạ chi lý đắc hỹ, thiên hạ chi lý đắc, nhi thành vị hồ kỳ trung hỹ.

Nhờ giản dị mà biết được cái lẽ của thiên hạ. Biết được cái lẽ của thiên hạ mà trọn vẹn cái ngôi của người trong trời đất vậy.

Do đó, những ký hiệu (giản dị) của Bát quái (nguyên thủy) trong kinh Dịch, không chỉ phản ánh sự vận động của vũ trụ mà còn phản ánh sự vận động của xã hội (Thiên ha) và con người. Bởi vì sự xuất hiện của loài người, cũng chỉ là một hiện tượng trong giai đoạn vận động của vũ trụ (cái ngôi của người trong trời đất).

Chương I – Tiết 1: Thiên tôn địa ty, Kiền Khôn định hỹ; ty cao dĩ trần, quý tiện vị hỹ; động tịnh hữu thường, cương nhu đoán hỹ; phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hỹ; tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hóa hiện hỹ.

Trời cao đất thấp thì Kiền, Khôn đã định. Thấp cao bày ra thì sang hèn chia thành ngôi. Định tĩnh có thường thì cứng mềm phân biệt. Các loại tự từng phương, các vật chia thành bầy thì tốt xấu sinh ra. Trên trời biến thành tượng; dưới đất hóa thành hình thì biến hóa hiện ra vậy.

Những ký hiệu (Bát quái và hệ thống quẻ) của kinh Dịch là những biểu tượng, mà trong đó sự vật, sự việc và những hiện tượng cũng như bản chất của nó đều đã được phân loại.

Chương II – Tiết 1: Thánh nhân thiết quái, quan tượng, hệ từ yên; nhi minh cát hung.

Thánh nhân đặt ra quẻ để xem xét các hiện tượng, kèm theo lời để chỉ sự xấu tốt.

Trên cơ sở tương quan của sự vật, sự việc và những vấn đề liên quan – qua ký hiệu biểu tượng của nó trong kinh Dịch – bậc trí giả đã phân định sự tốt, xấu cho con người.

Chương III – Tiết 5: Thị cố, quái hữu tiểu đại, từ hữu hiểm dị, từ dã giả, các chỉ kỳ sở chi.

Đó là tại sao có lớn nhỏ trong các quẻ; lời có hiểm hóc dễ dàng. Lời chỉ xu hướng tiến triển.

Bởi vậy, đó là nguyên nhân để trong lời quẻ có lúc thể hiện sự khó khăn, mạo hiểm; có lúc thể hiện sự hanh thông. Nhưng dù là sự hanh thông hay không – thì trong kinh Dịch cũng chỉ ra những nguyên lý cho sự vận động của nó (Lời chỉ xu hướng tiến triển).

Chương II –Tiết 6: Thị cố, quân tử, cư, tắc quan kỳ tượng, nhi ngoạn kỳ từ, động, tắc quan kỳ biến, nhi ngoạn kỳ chiêm; thị dĩ tự thiên hựu chi, cát vô bất lợi.

Cho nên, quân tử khi vô sự mà tinh thì xem tượng và ngẫm nghĩ đến lời đoán, do đó, được trời giúp cho. Tốt, không có gì mà không lợi.

Vì kinh Dịch phản ánh qui luật vận động của tự nhiên, xã hội và con người; cho nên cần phải tìm hiểu, học hỏi để biết lẽ tiến hóa, thịnh suy; từ đó có những ứng sử phù hợp với qui luật tự nhiên nên mọi việc hanh thông (trời giúp cho).

Chương II –Tiết 5: Thị cố, quân tử sở cư nhi an giả, dịch chi tự dã; sở lạc nhi ngoạn giả, hào chi từ dã.

Cho nên, quân tử theo thứ tự của Dịch mà được yên, suy gẫm hào mà được vui.

Vì biết và ứng sử thuận theo qui luật của tự nhiên (theo thứ tự của Dịch), cho nên luôn được bình yên và vui vẻ.

Chương V –Tiết 3: Dữ thiên địa tương tự, cố bất vi; tri chu hồ vạn vật nhi đạo tề thiên hạ, cố bất quá; bàng hành, nhi bất lưu; lạc thiên tri mệnh, cố bất ưu; an thổ đôn hồ nhân, cố năng ái.

Như thế, người đi đến chỗ giống như trời đất, không có gì trái. Trí tuệ bao trùm vạn vật, đạo nhân giúp đỡ cả thiên hạ, cho nên chẳng sai lầm. Quyền biến mà không bị lôi cuốn. Vui lẽ trời, thấu mệnh trời, cho nên chẳng có gì lo ngại. An tâm với cảnh ngộ, chân thật với điều nhân, cho nên có thể thực hành điều bác ái.

Do thuận theo qui luật tự nhiên, nên sự ứng xử sẽ phù hợp với tự nhiên (giống như trời đất). Vì hiểu biết qui luật tự nhiên (Trí tuệ bao trùm vạn vật), cho nên có thể đem sự hiểu biết đó để giúp ích cho đời mà chẳng sai lầm. Chính vì biết qui luật của tự nhiên, nên sự ứng xử sẽ không rơi vào trạng thái chủ quan, hoặc bị tác động (không bị lôi cuốn); chấp nhận cảnh ngộ do sự hiểu biết (chứ không phải do định mệnh đã an bài). Đó là cơ sở để con người luôn giữ được lòng nhân ái, mà không thể hiện những tính xấu trong hoàn cảnh bất thường.

Chương I – Tiết 7: Dị, tắc dị tri; giản tắc dị tòng; dị tri, tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công; hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại; khả cửu tắc hiền nhân chi đức, khả đại tắc hiền nhân chi nghiệp.

Dễ dãi thì dễ biết, đơn giản thì dễ theo. Dễ biết tất được thân thiết, dễ theo tất có công. Thân thiết thì lâu bền, có công thì trở nên lớn lao. Lâu bền là đức của người hiền, lớn lao là nghiệp của người hiền.

Bởi vậy, những nguyên lý của Dịch (tức sự nhận thức thể hiện trong vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành) được thể hiện bằng những ký hiệu đơn giản để mọi người dễ hiểu, dễ học. Vì dễ hiểu (so với cả một học thuyết vũ trụ quan và những ứng dụng đồ sộ của nó) nên mọi người dễ gần với Dịch (thân thiết). Khi dễ học thì dễ biết, khi đã biết tất sự hiểu biết đó sẽ giúp con người thành đạt. Còn muốn sự nghiệp lâu bền thì phải tích đức; muốn sự nghiệp to lớn thì phải có tích lũy (nghiệp).

Tiết 3: Nhân giả kiến chi vị chi nhân, trí giả kiến chi vị chi tri, bách tính nhật dụng nhi bất tri, cố quân tử chi đạo, tiển hỹ.

Người nhân thấy đạo ấy, gọi là nhân. Người trí thấy đạo ấy, gọi là trí. Trăm họ đều dùng hàng ngày mà chẳng biết, vì đạo quân tử hiếm có vậy.

Qui luật tự nhiên thường hằng trong cuộc sống, nhưng ít ai để ý, cũng như hơi thở vậy. Bởi vậy, trăm họ dùng hàng ngày mà chẳng biết, những người hiểu được nó thật hiếm hoi.

Chương V –Tiết 4: Hiển chư nhân, tàng chư dụng, cổ vạn vật, nhi bất dữ thánh nhân đồng ưu, thịnh đức đại nghiệp chí hỹ tai.

Hiển lộ đức nhân, nhưng dấu kín cái dụng của nó. Ban đời sống cho vạn vật, nhưng không chia sẻ cái lo lắng của thánh nhân. Đức thịnh, nghiệp lớn, đạt tới cực điểm.

Tự nhiên vận động sinh hóa không ngừng (sinh sinh vị chi Dịch), sự vật phát triển cũng từ đấy (Hiển lộ đức nhân. Ban đời sống cho vạn vật). Vì là sự vận động khách quan, nên – không chia sẻ cái lo lắng của thánh nhân. Nhưng con người biết thuận theo thì có thể đạt tới sự hoà nhập với Tạo hóa.

Chương  VI – Tiết 1: Phù Dịch quảng hỹ; dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngữ; dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tĩnh nhi chính; dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hỹ.

Dịch lớn thay! Rộng thay! Nói về xa mà không giới hạn; nói về gần thì tĩnh mà chính; nói về khoảng giữa trời đất thì bao trùm tất cả.

Kinh Dịch và những ký hiệu của nó là siêu công thức của siêu lý thuyết vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành. Bởi vậy, ở ngoài khi nói đến cái xa nhất thì đạt tới tính vô biên của vũ trụ; ở trong con người thì nói về cái chí tịnh của tâm linh (Nói về gần thì tĩnh mà chính – câu này có thể hiểu rằng: cái gần nhất không phải ở bên cạnh con người, cũng không phải ở bên trong cơ thể con người; mà chính là giá trị tâm  linh của con người. Người xưa quan niệm giá trị tột cùng của tâm linh là sự chí tịnh, trống rỗng; vì vậy, xin được mạn phép lý giải như trên). Tri kiến của Dịch bao trùm từ sự chí tịnh trong cõi tâm linh của con người cho đến sự vận động trong vũ trụ.

Chương VII – Tiết 1: Tử viết: Dịch kỳ chí hỹ hồ. Phù dịch, thánh nhân sở dĩ sùng đức nhi quảng nghiệp dã. Tri sùng lễ ti, sùng hiệu thiên, ti pháp địa.

Thầy nói (*): Kinh Dịch không cực kỳ tinh diệu sao? Nhờ đó mà thánh nhân sùng cao đức, mở rộng nghiệp. Trí thì cao siêu, lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước trời, thấp là bắt chước đất.

* Chú thích : Trong nguyên văn sách đã dẫn dịch chữ “Tử“ là Khổng Tử; trong sách này theo giáo sư Bùi Văn Nguyên đổi là “Thầy“

Chương VII – Tiết 2: Thiên địa thiết vị nhi Dịch hành hồ kỳ trung hỹ. Thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chi môn.
Trời đất định ngôi mà dịch lưu hành ở trong. Chí tính đã hoàn thành vẫn còn mãi mãi, đó là cái cửa của đạo nghĩa.
Chương VIII –Tiết 3: Ngôn thiên hạ chi chí trách nhi bất khả ố dã. Ngôn thiên hạ chi chí động nhi bất khả loạn dã.
Nói cái phức tạp nhất mà không chán, nói cái động nhất mà không loạn.

Sở dĩ như vậy vì kinh Dịch diễn tả qui luật vận động của tự nhiên.

Chương VIII –Tiết 4: Nghĩ chi nhi hậu ngôn. Nghị chi nhi hậu động. Nghĩ nghị dĩ thành kỳ biến hóa.

So sánh rồi mới nói, bàn bạc rồi mới hành động; so sánh và bàn bạc để hoàn thành công việc biến hóa.

Trên cơ sở hiểu biết qui luật vận động của tự nhiên, xã hội và con người; so sánh, bàn bạc để tìm một biện pháp thích hợp cho sự tồn tại hoặc phát triển của công việc (hoàn thành sự biến hóa).

Chương IX –Tiết 10: Tử viết: tri biến hóa chi đạo giả, kỳ tri thần chi sở vi hồ.

Thầy nói: “Ai biết được đạo biến hóa thì biết cả việc làm của thần linh”.

Khi đã biết được qui luật vận động từ cái chí tịnh gần nhất đến sự vô biên của vũ trụ thì sẽ biết được cả sự suy nghĩ, tinh thần của con người (kỳ tri thần chi sở vi hồ)

Chương X –Tiết 1: Dịch hữu thánh nhân chi đạo tứ yên, dĩ ngôn giả thượng kỳ từ, dĩ động giả thượng kỳ biến, dĩ chế khí giả thượng kỳ tượng, dĩ bốc phệ giả thượng kỳ chiêm.

Kinh Dịch có bốn điều về đạo thánh nhân: về lời nói, các lời quẻ hướng dẫn ta; về hành động, các biến hóa hướng dẫn ta; về chế tạo vật dụng, các hình tượng hướng dẫn ta; về bói toán các dự đoán hướng dẫn ta.

Với quan niệm cho rằng kinh Dịch là siêu công thức vũ trụ, có khả năng diễn đạt mọi qui luật vận động trong vũ trụ, từ cái lớn nhất đến cái nhỏ nhất. Bởi vậy, có thể căn cứ vào hiện tượng để tìm sự diễn biến cụ thể của sự vật, sự việc đó, rồi dựa trên sự hướng dẫn của Dịch – là sự tổng hợp những qui luật vận động của sự vật, sự việc (đã thể hiện bằng những ký hiệu) để dự đoán tương lai. Đó chính là nguyên nhân những ký hiệu của Dịch có thể dùng để “Bói”. Nhưng khi chưa tìm hiểu được bản chất của Dịch, thì việc bói toán mang tính siêu hình. Bói là một trong những công dụng của Dịch, chứ không phải mục đích của Dịch. Việc các nhà nghiên cứu dù chỉ là tạm thống nhất cho rằng Dịch dùng để “bói” là sai lầm; sai lầm này có nguồn gốc trên hai thiên niên kỷ, bắt đầu từ sự thất truyền của nền văn minh Văn Lang.

Chương X –Tiết 2: Thị dĩ quân tử tương hữu vi dã, tương hữu hành dã, vấn yên nhi dĩ ngôn, kỳ thụ mệnh dã như hướng, vô hữu viễn cận u thâm, toại tri lai vật, phi thiên hạ chi chí tinh, kỳ thục năng dữ ư thử.

Cho nên người quân tử sắp làm việc gì, sắp tiến hành điều chi cần tham khảo kinh Dịch mà lấy lời. Chịu mệnh như tiếng vang, không có xa gần sâu kín, mà biết được việc tương lai. Nếu không phải là vật tinh vi nhất trong thiên hạ thì làm sao được như thế?

Chương X –Tiết 5: Phù dịch, thánh nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dã.

Ôi đạo dịch, thánh nhân nhờ đó mà biết rất sâu và xét rất tinh vi.

Chương X –Tiết 6: tuy thâm dã, cố năng thông thiên hạ chi chí, tuy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ, tuy thần dã, cố bất tật nhi tốc, bất hành nhi chí.

Chỉ có sâu thẳm mới hiểu được cái chí của thiên hạ; chỉ có tinh vi mới hoàn thành được việc của thiên hạ; chỉ có thần diệu mới không vội vàng mà lại mau chóng, chẳng đi mà lại đến được đích.

Chương XI –Tiết 1: Tử viết: phù dịch hà vi giả dã, phù dịch khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dĩ giả dã.

Thầy nói: “Có Dịch để làm gì? Ôi Dịch mở mang mọi vật, làm nên mọi việc, bao trùm mọi đạo trong thiên hạ, chỉ có như thế mà thôi! Cho nên thánh nhân dùng để thông cái chí thiên hạ, định cái nghiệp thiên hạ và quyết đoán cái ngờ vực của thiên hạ”.

Những đọan trích dẫn trên đây từ trong sách Kinh Dịch và đời sống (sách đã dẫn bắt đầu từ trang 54).
Qua những đọan trích dẫn trên đây và những chú giải kèm theo đã chứng tỏ với bạn đọc về mục đích ra đời của kinh Dịch - một đề tài tranh luận sôi nổi của các nhà nghiên cứu có nguồn gốc đã trải hàng thiên niên kỷ.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  31. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV
  32. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 1
  33. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 2
  34. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 3
  35. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 4
  36. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 5
  37. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 6
  38. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 7
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Phần IV: Văn minh Văn Lang và thuyết Âm dương Ngũ hành lý giải những vấn đề liên quan. Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ (Ca dao Việt ...

Phụ chương: Quân tượng trên bàn Cờ. Con vỏi con voi/ Cái vòi đi trước/ Hai chân trước đi trước/ Hai chân sau đi sau/ Còn cái đuôi đi sau rốt/ Tôi xin kể ...

Tứ tượng trong văn minh Văn Lang. Trải nhiều thiên niên kỷ, các nhà lý học đã nói đến khái niệm Tứ tượng với cách hiểu như cổ thư chữ Hán miêu tả ...

Chương IV: Căn nguyên của Bát quái. Hệ từ viết: “Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng”.Dịch hữu thái cực – Thị ...

Thuyết quái và thuộc tính Ngũ hành của quái vị Hậu thiên bát quái nguyên thủy. Trong văn hóa dân gian Việt nam còn lưu truyền một câu ca dao nổi tiếng mà hầu ...

Chương III: Sự lý giải thuộc tính ngũ hành của quái vị từ văn minh Văn Lang. Hà đồ và cấu hình Hậu thiên bát quái. Trong cổ thư chữ Hán đã ghi nhận vua ...

Sự tương quan cấu hình Hậu thiên bát quái và thứ tự 64 quẻ thuộc hệ thống hệu thiên. Lời mở đầu của phần III đã chứng tỏ với bạn đọc tính suy ...

Chương II: Truyền thuyết bà Nử Oa và trời và phương vị Hậu thiên bát quái. Nội dung truyền thuyết và những vấn đề liên quan đến phương vị hậu thiên bát ...

Chương I: Văn minh Văn Lang với Lạc thư Hà đồ. Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên và Lạc thư Hà đồSự bí ẩn của Lạc thư Hà đồ – qua hàng ngàn năm – đã ...

Phần III: Văn minh Văn Lang và bí ẩn của bát quái. Thằng Bờm: Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú ông xin đổi ba bò chín trâu/ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu/ Phú ...