Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 7

Ngày đăng: Thứ bảy 21/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Kết cấu chặt chẽ của biểu tượng Âm dương Ngũ hành trong bánh Chưng, bánh Dầy cũng chỉ ra tính phi lý của khái niệm Tứ tượng lưu truyền trong cổ thư chữ Hán: Không thể có sự hiện hữu của Tứ tượng như một dạng tồn tại của vật chất khởi nguyên của vũ trụ sau Âm - Dương. Bởi vì, nếu như vậy thì sẽ không có sự sinh, khắc của Ngũ hành trong sự vận động nguyên thủy của vũ trụ, khi bên cạnh đó còn hiện hữu tới 4 dạng tồn tại khác được đặt tên là: Thiếu âm, Thiếu dương, Thái âm, Thái dương. Rải rác trong một số sách liên quan đến kinh Dịch còn có những thuật ngữ lão Âm, lão Dương, thuần Âm, thuần Dương(?).
Khái niệm Tứ tượng trong cổ thư chữ Hán miêu tả như là một dạng tồn tại nguyên thủy của vật chất là một sai lầm. Điều này mâu thuẫn với chính nội dung kinh văn của kinh Dịch; bởi vì, nếu Tứ tượng có thuộc tính vật chất – theo cổ thư Trung Hoa – thì từ những thuộc tính vật chất đó lại phát sinh ra những dạng tồn tại khác và được ký hiệu bằng Bát quái (!?). Nếu như vậy, những thuộc tính vật chất thể hiện ở Ngũ hành sẽ: hoặc là cùng tồn tại với Bát quái và tạo nên 13 dạng tồn tại nguyên thủy của vũ trụ trong vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành; hoặc là vũ trụ quan Âm dương và Vũ trụ quan Ngũ hành là hai hệ thống không thể hòa nhập ngay từ những nguyên lý khởi nguyên của nó. Đương nhiên tất cả hai khả năng đó đều phi lý trước thực tế ứng dụng của một học thuyết vũ trụ quan nhất quán và hoàn chỉnh trải hàng thiên niên kỷ, vốn được coi là hòa nhập vào thời Hán. Sự hiểu sai về ý niệm “Tứ tượng” là một nhân tố quan yếu, trong việc cản trở những cố gắng phục hồi hệ thống lý luận căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành của những nhà Lý học cổ Trung Hoa từ thời Hán. Trong kinh văn của kinh Dịch không hề diễn giải Tứ tượng là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Những thuật ngữ này – nếu xét theo nội dung bản văn – thì xuất hiện sớm nhất trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn, đó là những thuật ngữ:

* Quyết âm phong Mộc
* Thiếu âm quân Hỏa
* Thiếu dương tướng Hỏa
* Thái âm thấp Thổ
* Dương minh táo Kim
* Thái dương hàn Thủy (*)

* Chú thích: Ý tưởng Giáp hợp Kỷ hóa Thổ, Ất hợp Canh hóa Kim, Bính hợp Tân hóa Thủy, Nhâm hợp Đinh hóa Mộc, Mậu hợp Quí hóa Hỏa, xuất hiện lần đầu tiên – theo nội dung bản văn – trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”, phần Lục nguyên chính kỷ đại luận. Người đặt ra vấn đề này là Quỉ Du Khu – một nhân vật phụ bên cạnh hai nhân vật chính là Hoàng Đế và Kỳ Bá. Hiện tượng Giáp Kỷ hóa Thổ… được ghép với Ngũ Âm thanh cổ là: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ và ứng dụng trong diễn tả sự vận động của Lục Khí trong lý luận Đông y. Người viết cho rằng ý tưởng này mang tính mật ngữ, dùng để tìm nguyên tắc nạp âm Ngũ hành trong Lạc thư Hoa giáp. Xin xem “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập Hoa giáp” (Nxb VHTT 2002).

Qua sự chứng minh ở trên, chúng ta thấy rằng: những thuật ngữ này tự thân không coi Tứ tượng như là một sự tồn tại độc lập sau Âm dương mà gắn liền với yếu tố Ngũ hành. Sự tương quan hợp lý đã thể hiện rằng: Sự chuyển hóa của Âm dương không thể diễn tả bằng một khái niệm có ý nghĩa tuyệt đối. Bởi vì: Nếu Thiếu dương là một trạng thái phân biệt có giá trị tuyệt đối so với Thái dương – thì đã có sự phân biệt Âm dương. Khái niệm về sự chuyển hóa Âm dương cho rằng: khi Dương (hoặc Âm) cực thịnh thì Âm sinh (hoặc Dương sinh); giai đoạn bắt đầu của Âm sinh (hoặc Dương sinh) gọi là Thiếu âm (hoặc Thiếu dương); Dương trưởng thì Âm tiêu (hoặc ngược lại). Như vậy đây là sự chuyển hóa liên tục, không thể có khái niệm tuyệt đối để phân biệt sự chuyển hóa từ Âm sang Dương hoặc ngược lại. Một thí dụ tương tự cho ý niệm trừu tượng này, xin được minh họa bằng một đoạn thơ nổi tiếng của nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh như sau:

Nếu anh biết được... chiều nay
Gió từ đâu đến... thổi gầy nhành mai
Một đời gió có vì ai
Xô nghiêng chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

Đoạn thơ trên thật là tuyệt vời, xứng đáng được đứng trong danh sách: 210 bài thơ tình hay nhất thế giới. Đoạn thơ miêu tả trạng thái nội tâm chơi vơi vì sự hòa nhập đầy éo le giữa tình yêu và trách nhiệm; một mơ ước đậm chất lãng mạn, muốn vượt khỏi những mâu thuẫn nội tâm vốn hiện hữu như một sự an bài của Tạo hóa cho số phận con người. Chiều tím va hoàng hôn cùng là một khái niệm trong giai đoạn chuyển hóa từ ban ngày sang ban đêm. Nếu gọi là hoàng hôn (trời vàng) thì có thể hiểu là trời chiều, nhưng thuộc về phần ban ngày nhiều hơn. Nếu gọi là chiều tím thì cũng là trời chiều, nhưng thuộc về phần ban đêm nhiều hơn. khoảng phân biệt giữa chiều tímhoàng hôn là sự chuyển hóa liên tục giữa ngày và đêm trong buổi chiều; tương tự như giai đoạn chuyển hóa giữa Âm và Dương. Rất khó có thể phân định đâu là giới hạn giữa chiều tímhoàng hôn; tương tự như rất khó phân định rõ ràng sự chuyển tiếp từ Âm sang Dương. Bởi vì với khái niệm Thái âm tức là vượt qua Âm thì Dương bắt đầu sinh gọi là Thiếu dương, hoặc ngược lại. Nhưng giữa Thiếu dương và Thuần dương, Thái dương… là những giai đoạn chuyển hóa liên tục, chúng ta chỉ có thể ý niệm bằng một tư duy trừu tượng. Do đó, khái niệm về Tứ tượng trước đây cho là: Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương như là một khái niệm tuyệt đối được phân định rõ ràng là một sai lầm. Điều này chỉ có thể cụ thể hóa trong sự chuyển hóa từ Dương sang Âm ở Bát quái một cách tương đối từ quẻ Càn sang quẻ Khôn, gắn liền với sự vận động của Ngũ hành. Bởi vậy, khái niệm “Tứ tượng” không thể sử dụng với ý nghĩa là hình thức thể hiện cho sự vận động của Âm – Dương; mà chỉ có thể coi đó là bốn dạng tương tác của Ngũ hành trong sự ảnh hưởng của quá trình vận động Âm dương.
Theo thuyết Âm dương Ngũ hành thì sự vận động của Ngũ hành thể hiện ở 4 dạng tương tác như sau:

Tương sinh: THỦY sinh MỘC, MỘC sinh HỎA, HỎA sinh THỔ, THỔ sinh KIM, KIM sinh THỦY.
Tương thừa: là sự thái quá của tương sinh; thí dụ: Thủy dưỡng Mộc, Thủy quá vượng, Mộc không sinh được.
Tương khắc: THỔ khắc THỦY, THỦY khắc HỎA, HỎA khắc KIM. KIM khắc MỘC, MỘC khắc THỔ.
Tương vũ: là sự tiêu cực của tương khắc; thí dụ: Thổ khắc Thủy, Thủy quá vượng khiến Thổ bị triệt.

Bốn dạng tương tác của Ngũ hành nói trên chính là “Tứ tượng” (Tượng là một từ cổ tương tự như hình thức bên ngoài, hoặc những dấu ấn, hình thức vận động đặc thù liên quan; thí dụ như: mây đen là tượng của mưa, tăm là tượng của cá… trong trường hợp này chính là hình thức vận động tương tác của Ngũ hành). Như vậy, với cách lý giải này thì ngay sau khi xuất hiện tính động – phân biệt với trạng thái chí tịnh nguyên thủy của vũ trụ là Thái cực – đã bắt đầu xuất hiện ngay sự tương tác nói trên. Điều này giải thích ý nghĩa của câu: “Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng”. Sự lý giải này hoàn toàn trùng hợp với một nhận định của khoa học hiện đại được trích dẫn sau đây trong sách “Khám phá về các bí ẩn của con người và thế giới sống” (Tác giả Ngô Thành Đồng – Nxb Đà Nẵng – 1998 – trang 7):

Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật.
Tương tác là động lực nẩy sinh thế giới và cũng là nguyên nhân tuyệt diệt nó.
Như vậy, nguồn gốc và bản thể thế giới được nghiên cứu, nhận thức theo nguyên lý tương tác. Hình thức tương tác thế nào thì bản chất sự việc như thế vậy.

Qua đoạn trích dẫn trên đã cho thấy tính hợp lý trong những vấn đề liên quan của khái niệm Tứ tượng – theo cái nhìn từ văn hóa dân gian Việt Nam – trong vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành. Tất nhiên hình thức tương tác này là do sự vận động của những dạng vật chất nguyên thủy cấu thành vũ trụ – theo quan niệm vũ trụ quan cổ là Ngũ hành. Điều này lý giải vì sao trong bánh chưng chỉ có biểu tượng của Ngũ hành mà không có biểu tượng của Tứ tượng. Sau khi đưa khái niệm Tứ tượng trở về với đúng ý nghĩa nguyên thủy của nó trong sự tương quan hợp lý, sẽ dẫn tới sự lý giải tiếp theo là Bát quái – ký hiệu bản nguyên của kinh Dịch.

Nội dung đồ hình ký hiệu Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái

Với định nghĩa như trên, thì Tứ tượng chỉ là hình thức vận động của Ngũ hành trong sự chi phối của Âm dương. Điều này giải thích vì sao tượng của Ngũ hành nằm trong bánh chưng – thuộc Âm. Hiên tượng phát sinh này bắt đầu từ hành Thủy; như cổ thư đã ghi lại – được các nhà lý học thời Tống phát hiện công bố “Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi …”. Do ảnh hưởng của Dương đã hình thành Âm – Ngũ hành và Dương – Ngũ hành.
Do đó, với câu “Tứ tượng sinh Bát quái” thì Bát quái chính là đồ hình ký hiệu cho sự vận động, tương tác của Ngũ hành (Sự tương quan giữa Quái vị và Ngũ hành đã được trình bày ở phần trên trong đồ hình Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy). Đến đây một vấn đề được đặt ra là: Ngũ hành gồm 5 dạng tồn tại mà Bát quái lại chỉ thể hiện có 4 hành phân Âm dương là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa? Vấn đề này xin được lý giải như sau:
Thuyết Âm dương Ngũ hành quan niệm: hành Thổ là nơi qui tàng của 4 Hành còn lại. Khi sự vận động đến hành Thổ thì mọi sự lại bắt đầu. Như vậy, trong sự vận động của Ngũ hành thì chu kỳ kết thúc sẽ là dạng tồn tại của hành Thổ (Phải chăng hành Thổ trong dạng cấu tạo nguyên thủy có thể tìm thấy trong lỗ đen của vũ trụ?). Do đó, chỉ cần thể hiện sự vận động của 4 hành khí còn lại và phân Âm dương qua ký hiệu Bát quái, chu kỳ kết thúc ở Khôn (Thổ).

Sách “Tam mệnh thông hội” nói: “Ngũ hành không nói đến Thổ mà tứ hành đều thành Thổ cục. Vạn vật đều tàng trong đất”. (*)

* Chú thích: Dự đoán theo Tứ trụ, sách đã dẫn

Trên cơ sở phân tích những mâu thuẫn về khoảng cách xuất hiện vô lý giữa Tiên thiên và Hậu thiên đã trình bày ở phần II. Người viết xin được trình bày một giả thuyết và minh chứng về sự xuất hiện đồng thời của Bát quái Tiên thiên và Hậu thiên như sau:

Thuyết quái - Tiết 3 viết:
Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, chấn phong tương bạc thủy hỏa bất tương xạ, bát quái tương thố.
Số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch, thị cố Dịch nghịch số dã.

Khi Âm dương đã phân biệt (thiên địa định vị) , sự vận động nguyên thủy của Ngũ hành chính là trạng thái khởi nguyên hỗn mang của vũ trụ. Hình ảnh hỗn mang này được khoa Thiên văn học hiện đại mô tả, trùng khớp với đồ hình ký hiệu của Tiên thiên Bát quái như sau:

Đồ hình minh họa
sự hình thành vũ trụ qua Tiên Thiến Bát quái

Hình elip ở giữa được vẽ lại từ cuốn Vũ trụ phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại (Nguyễn Quang Riệu – Nxb Giáo Dục 1995) miêu tả “phông vũ trụ” do nhóm thiên văn COBE thực hiện, tái tạo lại sự hình thành vũ trụ giai đoạn đầu.
Sự kết hợp với đồ hình Tiên thiên Bát quái cho chúng ta một hình ảnh trong truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” là: “Khí nhẹ và trong bay lên thành trời, khí nặng và đục tụ xuống thành đất”. Trong đồ hình Tiên thiên Bát quái trên đây: chúng ta thấy rằng: toàn bộ những quái có số hào Dương nhiều hơn đều ở phía trên, mà ở phần cao nhất là quẻ Càn (Càn tượng trời, trong kinh văn của kinh Dịch chưa bao giờ coi Càn là Thuần dương); những quái có số hào Âm nhiều hơn đều ở phía dưới, mà ở phần thấp nhất là quái Khôn (tượng đất). Trục Càn Khôn là trục thẳng đứng. Trên cơ sở này, chúng ta có thể hiểu sự “tụ xuống thành đất” chính là sự tụ lại hình thành các thiên thể (Trong vũ trụ không có sự phân biệt ở trên, ở dưới).
Nội dung của đồ hình Tiên thiên không chỉ cho thấy một hình ảnh tĩnh trong sự hình thành vũ trụ mà còn là sự vận động tiếp theo của nó: “Khí nhẹ và trong bay lên thành trời, khí nặng và đục tụ xuống thành đất”; thứ tự của các quái dù tính thuận hay nghịch đều cho thấy sự chuyển hóa từ Âm sang Dương và ngược lại. Đồ hình Tiên thiên còn cho thấy tính cân bằng động của các quái cùng tính chất đối xứng qua trục Càn Khôn (theo quan niệm về đặc tính Ngũ hành của Bát quái nguyên thủy, đã chứng minh ở trên).

Chấn (Dương Mộc)  Cấn (Âm Mộc).
Đoài (Dương Kim)   Tốn (Âm Kim)

Khi vũ trụ đã hình thành, thì sự vận động của trái đất trong ảnh hưởng của những sự tương tác từ vũ trụ – mà sự tương tác gần gũi là do vị trí và sự vận động của trái đất trong Thái dương hệ – chính là cơ sở để hình thành Bát quái Hậu thiên. Điều này giải thích vì sao Bát quái Hậu thiên đã lý giải tất cả mọi hiện tượng liên quan đến thiên nhiên và cuộc sống trên trái đất; trong đó có con người. Khoa học hiện đại đã chứng tỏ rằng: chính độ nghiêng của trái đất (23o5’) là nguyên nhân của hình thành 4 mùa. Trong đó theo thuyết Âm dương Ngũ hành thì: mùa Xuân thuộc Mộc, mùa Hạ thuộc Hỏa, mùa Thu thuộc Kim, mùa Đông thuộc Thủy, tuần hoàn theo lý tương sinh của Ngũ hành. Chúng ta sẽ thấy sự trùng khớp hoàn toàn giữa độ nghiêng của trục trái đất và sự vận động của 4 mùa và cấu trúc đồ hình Hậu thiên nguyên thủy với Hà đồ dưới đây:
Tất cả những sự trùng khớp của đồ hình Tiên thiên với hình trạng vận động hỗn mang đầu tiên của vũ trụ và đồ hình Hậu thiên Bát quái với sự vận động của trái đất trong sự tương tác của vũ trụ, đã lý giải đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên phải xuất hiện đồng thời. Bởi vì, chỉ khi có con người trên trái đất mới có sự tìm hiểu vũ trụ. Từ sự tìm hiểu này đã dẫn tới một học thuyết vũ trụ quan cổ đại là thuyết Âm dương Ngũ hành và Bát quái chỉ là đồ hình ký hiệu thể hiện cho nội dung của học thuyết này.

Đồ hình minh họa
sự hình thành Hậu Thiên bát quái

Luận điểm về nội dung đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên tiếp tục  lý giải những vấn đề sau đây:
@ Sự liên quan chặt chẽ giữa hệ thống ký hiệu 64 quẻ Tiên thiên Bát quái với những nội dung của hệ thống ký hiệu 64 quẻ Hậu thiên Bát quái; sự liên hệ này được chứng tỏ bằng phương pháp dự đoán mà ông Thiệu Khang Tiết công bố vào thời Tống. Phủ nhận luận điểm cho rằng có những hệ thống ký hiệu Dịch ngoài Tiên thiên và Hậu thiên như: Liên Sơn Dịch, Qui tàng Dịch, Trung Dịch… Cho dù có thể tìm thấy những bản văn cổ ghi nhận những hiện tượng này thì cũng chỉ là những sản phẩm hoặc do hiểu sai, hoặc do ngụy tạo, khi kinh Dịch đã mất đi hệ thống lý thuyết căn bản của nó.
@ Sự lý giải trên cũng chứng tỏ rằng Kinh Phòng, Mạnh Hỷ (*) hoàn toàn không phải là người đề xướng thuyết Quái khí, dùng “Quái” của Chu Dịch phối ghép với khí hậu 4 mùa. Họ chỉ công bố một di sản văn hóa đã có từ trước đó của một nền văn minh bị tàn phá. Người ta không thể phát minh ra một cái mà – cho đến tận ngày hôm nay – người ta vẫn không hiểu gì về nó. Tính phát hiện và công bố càng được chứng tỏ, khi hầu như những yếu tố căn bản của học thuyết Âm dương Ngũ hành chỉ được coi là “phát minh” vào đời Tống, như: Hà đồ, Lạc thư, đồ hình ký hiệu và hệ thống 64 quẻ Tiên thiên…

* Chú thích: Theo cổ thư chữ Hán, thì đây là hai người được chân truyền từ ngài Khổng tử – Đã trích dẫn ở trên.

@ Thuyết Âm dương Ngũ hành là một học thuyết vũ trụ quan cổ đại hoàn chỉnh và Bát quái chính là ký hiệu của một siêu công thức thể hiện nội dung của học thuyết này. Đồng thời cũng chứng tỏ nền văn minh Văn Lang chính là nơi xuất xứ của học thuyết Âm dương Ngũ hành. Sự tồn tại của những cổ thư chữ Hán liên quan đến học thuyết này chỉ là sự phát hiện rời rạc những phần còn lại của một nền văn minh đã mất. Những mật ngữ tồn tại trong nền văn hóa truyền thống của người Việt Nam hiện nay làm chủ yếu – phối hợp với những mật ngữ trong truyền thuyết vốn được coi là của văn minh Trung Hoa – đã hướng dẫn sự lý giải những vấn đề căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành – trong sự tương quan hợp lý giữa các vấn đề liên quan đến nó – là một bằng chứng chứng tỏ cho luận điểm đã trình bày.
Từ những nguyên lý căn bản được phục hồi, sẽ dẫn đến khả năng phục hồi hoàn toàn học thuyết Âm dương Ngũ hành trên cơ sở sự tương quan hợp lý và những vấn đề liên quan đến nó. Điều này chỉ có thể thực hiện được, bắt đầu từ nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam – hậu duệ đích thực nền văn minh Văn Lang. Chính sự phát triển của khoa học hiện đại – tức là sự phát triển tự nhiên của xã hội, cuộc sống và tri thức con người – đã minh chứng cho nền văn minh Văn Lang – một nền văn minh kỳ vĩ, một thời bao trùm lên miền nam sông Dương Tử.
Đến đây, vấn đề có tính tất yếu được đặt ra trên quan điểm “Một luận thuyết khoa học thỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được hầu hết những vấn đề liên quan đến nó”. Do đó, từ sự hiệu chỉnh những mối tương quan căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành – theo sự lý giải được hướng dẫn từ nền văn minh Lạc Việt, phải chứng tỏ tính chân lý là: tiếp tục chứng minh được khả năng phục hồi những luận thuyết tiếp nối; từ đó có khả năng dẫn đến sự hiệu chỉnh đối với những phương pháp luận trên thực tế ứng dụng của tất cả các vấn đề liên quan, như: thiên văn, địa lý, y lý, lịch số, dự đoán...
Một thực tế được thừa nhận và đã chứng minh là: trong tất cả những sự ứng dụng trên thực tế của phương pháp luận Âm dương Ngũ hành bao trùm lên mọi lĩnh vực, đều thiếu hẳn một luận thuyết liên hệ với những hệ thống lý luận căn bản vốn rất mơ hồ của học thuyết này – (trong cổ thư chữ Hán). Do đó, người ta không thể nào chứng nghiệm được tính hợp lý của những phương pháp ứng dụng (chưa nói đến tính khoa học hay phi khoa học theo nghĩa đơn giản nhất của từ này), mà chỉ có được một kết luận về tính đúng sai trên hiệu quả thực tế. Điều này lại còn phụ thuộc vào khả năng cụ thể của người thực hiện. Người ta không thể giao một cái xe gắn máy hư cho một người thợ yếu tay nghề, rồi kết luận xe gắn máy không tiện lợi bằng xe đạp.
Sự hiệu chỉnh có tính căn để cho tất cả những sự ứng dụng rộng lớn – bao trùm lên sự vận động từ vũ trụ cho đến đời sống của con người – đã trải hàng ngàn năm nay, sẽ là một điều khó thực hiện cho một luận thuyết mới định hình (cho dù nó được thừa nhận tính chân xác) là một việc khó có thể làm ngay bây giờ – một cách hoàn chỉnh – trong một thế hệ. Nhưng trong một mức độ giới hạn thuộc khả năng của mình, chỉ xin được trình bày những luận thuyết trên cơ sở vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành – đã được chứng tỏ từ nền văn minh Văn Lang – liên quan đến một số mặt ứng dụng trên thực tế ở những chương tiếp theo đây nhằm chứng tỏ tính chân lý của những mật ngữ đã hướng dẫn; đồng thời cũng là sự chứng minh tiếp tục cho giả thuyết được đặt ra trong cuốn sách này.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Căn nguyên của Bát quái. Hệ từ viết: “Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng”.Dịch hữu thái cực – Thị ...

Thuyết quái và thuộc tính Ngũ hành của quái vị Hậu thiên bát quái nguyên thủy. Trong văn hóa dân gian Việt nam còn lưu truyền một câu ca dao nổi tiếng mà hầu ...

Chương III: Sự lý giải thuộc tính ngũ hành của quái vị từ văn minh Văn Lang. Hà đồ và cấu hình Hậu thiên bát quái. Trong cổ thư chữ Hán đã ghi nhận vua ...

Sự tương quan cấu hình Hậu thiên bát quái và thứ tự 64 quẻ thuộc hệ thống hệu thiên. Lời mở đầu của phần III đã chứng tỏ với bạn đọc tính suy ...

Chương II: Truyền thuyết bà Nử Oa và trời và phương vị Hậu thiên bát quái. Nội dung truyền thuyết và những vấn đề liên quan đến phương vị hậu thiên bát ...

Chương I: Văn minh Văn Lang với Lạc thư Hà đồ. Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên và Lạc thư Hà đồSự bí ẩn của Lạc thư Hà đồ – qua hàng ngàn năm – đã ...

Phần III: Văn minh Văn Lang và bí ẩn của bát quái. Thằng Bờm: Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú ông xin đổi ba bò chín trâu/ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu/ Phú ...

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...