Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 2

Ngày đăng: Thứ sáu 20/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Hà đồ vốn được ứng dụng từ đời Hoàng Đế trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn (*), được thể hiện từ đời Chu (trong Thượng Thư – Cổ mệnh), nhắc đến vào đời Hán (trong kinh Dịch “Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư” – theo Khổng An Quốc), cuối cùng chính thức xuất hiện vào đời Tống, như đã trình bày ở trên. Để bạn đọc tiện theo dõi, xin được xoay lại đồ hình Hà đồ 180o cho phù hợp với cách nhìn bản đồ hiện đại, kèm đồ hình truyền thống để bạn đọc đối chứng cùng với lý Ngũ hành tương sinh theo cổ thư chữ Hán đã nói như sau:

* Chú thích: Dấu ấn Hả đồ trong Hoàng Đế nội kinh xin được chứng minh ở phần sau.

Trên cơ sở đồ hình Hà đồ cửu cung, chúng ta đặt vào các cung tương ứng đồ hình Tiên thiên Bát quái của vua Phục Hy và sẽ được đồ hình sau.

Hà đồ kết hợp tiên thiên bát quái

Qua đồ hình trên, sự liên hệ giữa Bát quái với thuộc tính Ngũ hành mà cổ thư chữ Hán ghi nhận – so sánh vị trí của Bát quái trên Hà đồ – chúng ta sẽ thấy những hiện tượng sau:
Càn (Trời – Kim); Đoài (Kim) – nằm ở hành Thủy của Hà đồ.
Ly (Lửa); Chấn (Mộc) – nằm ở hành Kim của Hà đồ.
Khôn (Đất); Cấn (Núi) – nằm ở hành Hỏa của Hà đồ.
Khảm (Nước); Tốn (Gió – Mộc) – nằm ở hành Mộc của Hà đồ.

@ Qua hiện tượng trên, mâu thuẫn đầu tiên mà bạn đọc cũng thấy được là sự rối loạn trong sự tương quan giữa thuộc tính Ngũ hành của các quái được nói đến với tính chất của Ngũ hành trên Hà đồ. Nếu khiên cưỡng mà cho rằng: Sở dĩ Khôn (Đất), Cấn (núi – Thổ) nằm ở Hỏa, vì Hỏa sinh Thổ. Càn – Đoài thuộc Kim nằm ở hành Thủy vì Kim sinh Thủy. Lập luận như vậy thì sẽ không lý giải được Ly (Hỏa) Chấn (Mộc) lại nằm ở hành Kim? Khảm (Thủy)Tốn (gió – Mộc) lại nằm ở hành Mộc ở Hà đồ?
Như vậy, sẽ dẫn đến hai trường hợp sau :
1) Nếu xét sự tương quan giữa đồ hình Hà đồ với Tiên thiên Bát quái, thì hoàn toàn không có cơ sở nào để có sự tương quan giữa Quái vị với thuộc tính Ngũ hành mà nội dung thể hiện trong sự ứng dụng: Ly – Hỏa; Khảm – Thủy; Chấn – Mộc; Đoài – Kim…?
2) Nếu theo sự giải thích của các học giả nghiên cứu hiện đại cho rằng thuyết Âm dương trong kinh Dịch có xuất xứ không đồng thời với thuyết Ngũ hành, thì xuất xứ của Bát quái Tiên thiên không liên quan gì đến Hà đồ; như vậy thì Lạc thư cũng không liên quan đến Hậu thiên Bát quái. Do đó, cũng sẽ không có cơ sở nào để có sự liên hệ giữa Ngũ hành và Quái vị. Vậy căn cứ vào đâu để Quái vị có thuộc tính của nó là Ngũ hành? Trong trường hợp này thì câu: “Hà xuất đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi” trong Thập dực – được coi là của ngài Khổng tử – phải xem lại nội dung của nó!
So sánh nội dung câu trên với câu trong sách Luận Ngữ, thiên Tử Hãn, ngài Khổng tử nói: “Phượng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ. Ngô dĩ hĩ phù.” thì chính ngài Khổng tử cũng thừa nhận: Hà đồ là bức hình trên lưng Long mã, hiện ra ở sông Hoàng Hà và ngài đã biết đến nó. Như vậy, câu nói của ngài mà sách Luận Ngữ ghi nhận chính là sự bổ sung cho nhận định của Hán nho: Khổng tử đã trước tác Thập dực. Đây là một sự phi lý! Thực tế đã chứng minh ở trên cho thấy: Không hề có sự liên quan giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái! Sự chứng minh này đã chứng tỏ những vấn đề sau đây:
@ Các nhà nghiên cứu thời Hán, hoặc sau ngài Khổng tử đã thêm câu “Phượng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ. Ngô dĩ hĩ phù.” vào sách Luận Ngữ. Từ đó, hoàn toàn có cơ sở cho rằng: Cần đặt lại vấn đề về tính chân xác trong nội dung sách Luận Ngữ, một cuốn sách mà tác giả của nó vốn được coi là chắc chắn của Khổng tử .
Một hiện tượng rất đáng lưu ý, bổ sung cho vấn đề được đặt ra là: cũng câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư”, nhưng trong Hán thư Nghệ văn chí lại được hiểu như sau: Sự nghiệp của ngài Khổng tử lập nên ở sông Hoàng Hà, viết sách ở sông Lạc Thủy (?). Đoạn trích dẫn sau đây chứng tỏ điều này:

Người đầu tiên cho rằng sách Tiểu tự do Khổng tử viết ra là Ban Cố. Ông viết trong Hán thư nghệ văn chí rằng: “Dị viết: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi, cố thi chi sở khởi viên hỉ, chí Khổng tử soạn yên, Thượng đoán dư Nghiêu hạ bất dư Tần, phàm bách thiên,, nhi vị chi tự, ngôn kỳ tác ý” (Trong kinh Dịch có viết rằng: Lập nghiệp ở sông Hà, viết sách ở sông Lạc, đó chính là thánh nhân Khổng tử mới biên soạn lại, bắt đầu từ vua Nghiêu, kết thúc vào đời Tần, có 100 thiên gọi là tự, dựa vào sách xưa để sắp xếp lại ý tứ mạch lạc).(*)

* Chú thích: Thượng Thư – sách ghi chép thời Thượng cổ, Võ Ngọc Liên biên soạn, Trần Kiết Hùng hiệu đính, Nxb Đồng Nai 1996, tr.41)

Như vậy, phải chăng tùy theo nhu cầu mà những nhà trước tác Hán Nho sửa ý để phục vụ cho mục đích của mình, góp phần đáng kể vào sự huyễn ảo của nền văn minh phương Đông. Trường hợp của Hán thư Nghệ văn chí trên đây là nhằm minh chứng cho việc Khổng tử trước tác kinh Thư.
So sánh cách hiểu của ông Ban Cố với câu trong Luận Ngữ “Phượng điểu bất chi, Hà bất xuất đồ. Ngô dĩ hĩ phù” thì chỉ có thể hiểu rằng: Khổng tử đã thừa nhận “Hà xuất đồ” không phải là lập sự nghiệp ở sông Hoàng Hà, mà là hình Hà đồ trên lưng Long mã – một biểu tượng của điềm lành. Như vậy thì ông lại không phải là người trước tác kinh Thư (Kinh Thư là một tác phẩm cổ, trong đó ghi nhận việc vua Vũ đặt ra Hồng phạm cửu trù. Vấn đề này sẽ đuợc bàn rõ hơn ở phần sau). Như vậy thì câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi” với hai cách hiểu như trên, sẽ có một cái đúng hoặc cả hai đều sai. Từ hiện tượng này sẽ là cơ sở để đặt vấn đề cho sự sai lệch của Hán nho về nguồn gốc của nền văn hóa Đông Phương.
Quay trở lại với ý nghĩa truyền thống được hiểu trong kinh Dịch, những mâu thuẫn không thể lý giải trong sự tương quan giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái tự nó đã đặt ra những vấn đề sau đây:
1) Câu nói của Khổng tử trong Luận Ngữ do đời sau gán ghép. Như vậy, sẽ dẫn đến việc phải xem xét lại tính chân xác về nội dung cũng như tác giả của hầu hết những sách liên quan được phục hồi sau thời Tần
2) Nếu tính chân xác của sách Luận Ngữ được khẳng định thì lại không lý giải được sự liên quan giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái, vì nó có sự liên hệ với Hệ từ trong kinh Dịch cũng được coi là của ông làm ra?
Trong cả hai trường hợp trên thì sự hợp lý với một kết cấu chặt chẽ nhất trong những vấn đề liên quan đến kinh Dịch là nội dung của câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi” sẽ được diễn đạt như sau: Sự vận động của Thiên Hà đã tạo đồ hình. Căn cứ vào những hình tượng trong thiên hà, những bậc thánh nhân của người Lạc Việt (*) đã viết thành sách, gọi là Lạc thư. Như vậy Lạc thư là sách nhằm diễn giải một học thuyết có nội dung liên quan đến sự vận động vũ trụ (Chữ “thư” – theo âm Việt Hán tự nó đã có nghĩa là sách). Còn Hà đồ là một danh từ chung để chỉ tất cả những đồ hình liên quan đến sự vận động của Thiên hà. Vấn đề được đặt ra sẽ được minh chứng rõ hơn ở phần III.

* Chú thích : Người viết cho rằng Lạc Việt là một danh từ chung để chỉ toàn bộ cộng đồng Bách Việt ở Nam sông Dương Tử, phân biệt với các chủng tộc khác trong quốc gia Văn Lang; chứ không phải chỉ là tên riêng chỉ một bộ.Vì vậy, câu “Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi” được hiểu là “thánh nhân Lạc Việt“. Trong kinh Dịch nhiều nhà nghiên cứu hoài nghi chữ  “ Tử viết “không hẳn là để chỉ Khổng tử. Người viết xin được bổ sung cho giả thuyết này là: trong Hoàng Đế Nội kinh tố vấn cũng dùng chữ “Tử viết” và “Phu Tử” rất nhiều lần, nhưng chắc chắn không phải nói tới Khổng tử.

@ Yếu tố mâu thuẫn nữa trong sự tương quan giữa đồ hình Tiên thiên Bát quái và Hà đồ là Ngũ hành lại có trước Tiên thiên Bát quái (vì Hà đồ mang nội dung Ngũ hành tương sinh). Như vậy, phải chăng vua Phục Hy chính là người đã phát hiện ra thuyết Âm dương – Ngũ hành? Trong khi đó, theo các nhà nghiên cứu hiện đại, lịch sử thuyết Ngũ hành được ghi nhận xuất xứ từ nước Yên, Tề và chỉ được hoàn chỉnh vào thời Hán, tức là sau thời “Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái” khoảng hơn 3000 năm? Còn theo nội dung cổ thư chữ Hán thì cũng có sau vua Phục Hy 1000 năm nếu tính đến thời Hoàng Đế với cuốn Hoàng Đế nội kinh, hoặc 2000 năm nếu tính đến thời vua Đại Vũ với Lạc thư và Hồng phạm cửu trù?
@ Nếu khiên cưỡng mà cho rằng: Ngũ hành quả thật ra đời trước Tiên thiên Bát quái – tức là trước vua Phục Hy – để bảo đảm tính hợp lý của sự tương quan giữa hai đồ hình Hà đồ và Tiên thiên. Lập luận này sẽ chứng minh được một cách hợp lý hiện tượng liên quan đến Hà đồ trong kinh Dịch và trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Nhưng nếu như vậy thì không lý giải được hiện tượng Ngũ hành xuất hiện một cách thô sơ trong Hồng phạm được coi là của vua Đại Vũ làm ra và ông cũng không phải là người phát hiện ra Ngũ hành. Bởi vì, thuyết Âm dương – Ngũ hành đã được ứng dụng một cách vi diệu trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Với lập luận này sẽ không thể giải thích được toàn bộ kinh điển đồ sộ của Nho giáo – được coi là sự sáng tác và sưu tập của Khổng tử sau đó gần 3000 năm – lại không hề có một chữ nào nói đến Ngũ hành? Lập luận này cũng không lý giải được tại sao nhà sử học vĩ đại Trung Hoa là Tư Mã Thiên lại cho rằng: Trâu Diễn là người sáng tạo ra thuyết Âm dương Ngũ hành? Không lẽ ông ta không biết nó dã tồn tại hàng ngàn năm trước đó? Đặc biệt là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn là một cuốn lý luận y học Đông phương, tức là nó phải hết sức phổ biến vì y học là một nhu cầu thiết yếu của con người!
Chỉ với một vấn đề tương quan ngay trong căn nguyên của kinh Dịch là Hà đồ và Tiên thiên Bát quái đã tạo ra những mâu thuẫn không thể lý giải. Có lẽ đây là một trong những nguyên nhân dể các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng thuyết Âm dương và Ngũ hành là hai học thuyết xuất hiện độc lập và hòa nhập vào đời Hán. Với nhận định này, trên thực tế tự nó đã phủ định toàn bộ giá trị thời gian lịch sử trong nội dung cổ thư chữ Hán. Như vậy, nền văn minh Đông phương được coi là có nguồn gốc từ văn minh Hoa Hạ, phải chăng chỉ vì người ta không tìm thấy một bản văn nào khác nói về những giá trị của nền văn minh Đông phương ngoài cổ thư chữ Hán?

Lạc thư và hậu thiên bát quái

Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán cho rằng: Lạc thư là căn nguyên của Hậu thiên Bát quái. Đồ hình hệ thống 64 quẻ Hậu thiên là nội dung chính của kinh Dịch hiện lưu truyền, cũng chính là phần ứng dụng vi diệu của kinh Dịch. Do đó, việc tìm hiểu về Hậu thiên Bát quái tức là sự tìm hiểu căn nguyên của kinh Dịch. Sự ứng dụng của Hậu thiên Bát quái trải rộng trên nhiều lĩnh vực: thiên văn, địa lý, y lý, lịch số, dự đoán tương lai… Vì vậy, sự phát hiện những mâu thuẫn giữa Hậu thiên Bát quái với những vấn đề liên quan cũng là sự phát hiện những sai lệch của nó. Từ đó sẽ dẫn đến việc hiệu chỉnh cho đúng giá trị nguyên thủy của kinh Dịch và những vấn đề liên quan. Đây là một trong những phần phức tạp trong nội dung cuốn sách này. Bởi vậy, xin được trình bày bắt đầu từ căn nguyên của Lạc thư và sự tương quan giữa Lạc thư và Hậu thiên Bát quái.
Theo cổ thư chữ Hán ghi lại: Khi vua Đại Vũ đi trị thủy ở sông Lạc, được rùa thần cho Lạc thư. Căn cứ vào những vòng tròn đen trắng trên lưng rùa, ngài đã làm ra Hồng phạm cửu trù. Trù thứ I trong Hồng phạm cửu trù đề cập tới Ngũ hành được trình bày như sau:

“Nhất Ngũ hành: nhất viết Thủy, nhị viết Hỏa, tam viết Mộc, tứ viết Kim, ngũ viết Thổ. Thủy viết nhuận hạ, Hỏa viết viêm thượng, Mộc viết khúc trực, Kim viết tòng cách, Thổ viết giá sắc. Nhuận hạ tác hàm, viêm thượng tác hổ, khúc trực tác toan, tòng cách tác tân, giá sắc tác cam.”
“Trù thứ nhất là Ngũ hành: một là nước, hai là lửa, ba là gỗ, bốn là vàng, năm là đất. Nước ngấm xuống dưới, lửa bốc lên trên, gỗ cong hoặc thẳng, vàng đổi theo hình, đất để cấy gặt. Nước thấm xuống, vị mặn; lửa bốc lên, vị đắng; gỗ cong hoặc thẳng, vị chua; vàng đổi theo hình, vị cay; đất để cấy gặt, vị ngọt.” (*)

* Chú thích: Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương – sách đã dẫn.

Bạn đọc có thể coi toàn bộ nội dung của Hồng phạm cửu trù trong những sách nghiên cứu về triết học cổ Đông phương, như cuốn “Đại cương triết học sử Trung Quốc” của Phùng Hữu Lan…
Đồ hình minh họa Lạc thư và Hồng phạm cửu trù như sau:

Đồ hình minh họa cửu cung Lạc Thư
và Hồng phạm cửu trù

Đồ hình Lạc thư và hậu thiên bát quái
Đã xoay 180o theo bản đồ hiện đại

Trên cơ sở nội dung của Lạc thư đã trình bày, chúng ta thử xếp đồ hình Lạc thư với Hậu thiên Bát quái để nghiệm lý như sau:

Đồ hình minh họa cửu cung Lạc thư
và Hậu thiên bát quái

Qua hình vẽ trên bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Nếu lấy 4 quẻ chính có hành khí và phương vị rõ ràng là Ly (Hỏa – Nam), Khảm (Thủy – Bắc ), Đoài (Kim – Tây), Chấn (Mộc – Đông) làm chuẩn, thì rõ ràng chúng có sự sai lệch với vị trí và phương vị Ngũ hành trên Lạc thư như sau:
Phương Bắc: Hậu thiên – Khảm – Thủy; Lạc thư – Thủy; hợp.
Phương Nam: Hậu thiên – Ly –Hỏa; Lạc thư – Kim; khắc.
Phương Đông: Hậu thiên – Chấn – Mộc; Lạc thư – Mộc; hợp.
Phương Tây: Hậu thiên – Đoài – Kim; Lạc thư – Hỏa; khắc.
Như vậy giữa đồ hình Hậu thiên Bát quái và Lạc thư có sự sai lệch của hai hành là Kim và Hỏa. Điều này cho thấy giữa hai đồ hình này cũng không có sự tương quan về Ngũ hành.
Nếu lập luận cho rằng: Ngũ hành của các quái trong Hậu thiên không liên quan gì dến Ngũ hành của Lạc thư. Bởi vì, theo các nhà nghiên cứu hiện đại thì thuyết Âm dương xuất phát từ dân tộc Khương, thuyết Ngũ hành xuất phát từ dân tộc Việt. Hai học thuyết này được Khổng tử hoặc Trâu Diễn tổng hợp vào thời Chiến quốc, hay “từng bước hòa nhập vào đời Hán” thì có thể nói rằng: Đã hơn 2000 năm, kể từ đời Hán cho đến ngày hôm nay, căn nguyên của Chu Dịch là Lạc thư và Hậu thiên Bát quái vẫn chưa hòa nhập. Vậy căn cứ vào đâu để xác định hành khí của các quái đó?
Sự liên hệ tương quan giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái và sự liên hệ tương quan giữa Lạc thư với Hậu thiên Bát quái được chứng minh ở trên đã chứng tỏ:
Sự tương quan của Lạc thư – Hà đồ với Bát quái như cổ thư chữ Hán nói đến trên 2000 năm qua, không thể nào có cơ sở để quái vị thể hiện Ngũ hành như sự ứng dụng vi diệu của nó trên thực tế trải hàng thiên niên kỷ và bao trùm lên nhiều lĩnh vực. Đến đây, để bảo đảm tính khách quan, vấn đề được tiếp tục minh chứng với ba giả thuyết sau:

Giả thuyết thứ nhất: thuyết Âm dương – Ngũ hành hoàn chỉnh vào đời Hán. Do đó, Ngũ hành trong Lạc thư và Hà đồ không có sự liên hệ trực tiếp với Bát quái như cổ thư chữ Hán đã nói tới. Giả thuyết này giải thích được sự hòa nhập từng bước vào đời Hán của thuyết Âm dương có trong kinh Dịch và thuyết Ngũ hành – như nhận định của các nhà nghiên cứu hiện đại. Giả thuyết này cũng giải thích được sự sai lệch về tính chất của Ngũ hành trong Quái vị với Lạc thư – Hà đồ đã chứng minh ở trên. Nhưng với giả thuyết này lại đặt ra những mâu thuẫn có liên hệ chặt chẽ sau đây:
@ Khi không có sự liên hệ giữa Lạc thư – Hà đồ với Bát quái, thì sẽ có một khoảng trống lớn về lý thuyết minh chứng tính chất Ngũ hành của Quái vị như thực tế đã ứng dụng trên 2000 năm qua từ sau thời Hán. Nếu coi từ thời Hán cho đến tận ngày hôm nay là thời gian hòa nhập và hoàn chỉnh của thuyết Âm dương – Ngũ hành thì không thể có khoảng trống lý thuyết nói trên.
@ Quay trở lại vấn đề nội dung của câu “Hà xuất Đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi” trong kinh Dịch; bởi vì nếu thuyết Âm dương – Ngũ hành hoàn chỉnh vào thời Hán, tức là Lạc thư – Hà đồ mang nội dung Ngũ hành, không liên quan đến Bát quái mang nội dung Âm dương có trước Hán, thì Khổng tử không có lý do gì viết câu trên trong Hệ từ. Từ đó tất cả những vấn đề xuất xứ liên quan đến Lạc thư – Hà đồ trong cổ thư chữ Hán phải xem lại tính chân xác của nó, hay nói một cách khác giả thuyết này tự nó đã phủ nhận toàn bộ lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán.
Giả thuyết thứ hai: thuyết Âm dương – Ngũ hành được hoàn chỉnh vào thời Xuân thu Chiến quốc và sau khi Khổng tử đã san định kinh Dịch, viết Thập dực; nên Ngũ hành của Lạc thư Hà đồ cũng không liên quan đến Bát quái; đồng thời giả định rằng: đã có một hệ luận lý giải sự liên hệ giữa Quái vị với Ngũ hành nhưng thất truyền (giả định rằng thất truyền vào khoảng thời Tần), cho đến thời Tống mới phát hiện. Giả thuyết này sẽ giải thích được khoảng trống lý thuyết nói trên, đồng thời nó cũng lý giải được sự xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được cho là xuất hiện vào thời Xuân thu Chiến quốc hoặc sau đó. Với giả thuyết này sẽ chứng minh được Sử Ký của Tư Mã Thiên cho rằng Trâu Diễn (350 –270 tr.CN) là người tổng hợp thuyết Âm dương Ngũ hành. Nhưng với giả thuyết này thì lại có mâu thuẫn nẩy sinh như sau:
@ Vì thuyết Âm dương Ngũ hành hoàn chỉnh và xuất hiện sau ngài Khổng tử, nên vẫn phải đặt lại vấn đề nội dung câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” – vốn được coi là tiền đề căn bản của kinh Dịch – bị phủ nhận. Do đó, sẽ dẫn tới sự hoài nghi tính chân xác của toàn bộ nội dung phần kinh văn của kinh Dịch. Tệ hơn nữa cho các nhà trước tác Hán nho là trong cuốn Thượng Thư (thiên Cố mệnh) đã ghi rõ: “Trên vách trái cung điện của Chu Văn Vương có khắc hình Hà đồ”. Nội dung câu này trước đây vốn là một bằng chứng gián tiếp cho sự liên hệ giữa Hà đồ với Tiên thiên Bát quái, hoặc trong trong sách Luận Ngữ (thiên Tử Hãn) với câu “Phượng điểu bất tri, Hà bất xuất Đồ, Ngô dĩ hĩ phù” sẽ phải đặt lại vấn đề về tính chân xác của nó và tình trạng vẫn không sáng sủa như đã trình bày ở trên.
Giả thuyết thứ ba: Thuyết Âm dương Ngũ hành ra đời trước khi ngài Khổng tử sáng tác Thập dực. Giả thuyết này cũng sẽ có tất cả mọi thuận lợi như: giả định một hệ luận thất truyền; giải thích được câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” v.v... Nhưng nó lại xuất hiện những mâu thuẫn sau đây:
@ Không giải thích được kinh Dịch chỉ nói đến Âm dương không nói đến Ngũ hành – khi Âm dương Ngũ hành đã là một học thuyết hoàn chỉnh trước sinh thời ngài Khổng tử.
@ Phủ định nhiều vấn đề liên quan như: Trâu Diễn không phải là người sáng tác hoặc tổng hợp thuyết Âm dương Ngũ hành như Sử Ký của Tư Mã Thiên nói tới.
@ Đặt vấn đề Hà đồ – Lạc thư là gì khi được coi là căn nguyên của Bát quái và những hiện tượng liên quan đến hai đồ hình này trong các cổ thư chữ Hán, thí dụ như trong Luận ngữ (thiên Tử Hãn) câu: “Phượng điểu bất chi, Hà bất xuất đồ. Ngô dĩ hĩ phù!”
Như vậy, qua phần chứng minh trên chứng tỏ: Không thể tìm được một sự tương quan hợp lý nào, ngay cả trong những tiền đề căn bản của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán lưu truyền. Khi những tiền đề căn bản của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứa đựng những mâu thuẫn thì hệ quả của nó chắc chắn không thể nào có một sự kết cấu hợp lý:
Mâu thuẫn trong sự liên hệ giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái, Lạc thư và Hậu thiên Bát quái qua những vấn đề nêu trên, được tóm lược như sau:
Hà đồ căn nguyên của Tiên thiên Bát quái = 3500 năm tr.CN. Thời hoàng đế Phục Hy.
Lạc thư căn nguyên của Hậu thiên Bát quái = 2000 năm tr.CN; thời vua Đại Vũ.
Hậu thiên Bát quái xuất hiện vào thời Chu Văn Vương = 1200 năm tr.CN.
Âm dương 1200 tr.CN – vào thời Chu và trong kinh Dịch.
Âm dương + Ngũ hành = thời Hán
Riêng dấu ấn của Hà đồ với lý tương sinh của Ngũ hành (Dấu ấn Hà đồ có trong Hoàng Đế nội kinh; nhưng sự xuất hiện thực tế của Hà đồ được xác định vào thời Tống) và tự thân cuốn Hoàng Đế nội kinh khó có thể đặt vào thời điểm nào đó trong lịch sử văn hóa Trung Hoa?

Đồ hình minh họa thời gian xuất hiện
Âm Dương và Ngũ hành theo cổ thư chữ Hán

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...