Đầu năm Cọp đọc về Trà (Chè) (2)

Ngày đăng: 01/03/2010 00:00:00


"
Ngọc Thiên " mính, khổ đồ . " Nhĩ Nhã " . Tấn - Quách Phác : " tảo thải giả vi đồ , vãn thủ giả vi mính , nhất danh suyễn. Thục nhân danh chi khổ trà” . Quách Phác (276-324) là học giả và sử gia nổi tiếng đời Tấn; Để ý câu cuối của ông ghi chú ' ... Người Thục gọi là khổ trà ...’.

Một nhận xét thêm về
thuấn: thường chỉ chi dâm (râm) bụt hay phù dung (thuộc chi Hibiscus). Có loại cây thuộc chi này được dùng làm thức uống, rau ăn, thuốc trị bệnh táo bón, nôn mửa ... Thành ra thuấn có thể từng là một loại trà như truyền thuyết ở trên và phù hợp với cách dùng trà như dược thảo vào thời cổ đại ở TQ.

Thiết蔎 theo Ngọc Thiên là hương thảo - một loại bông lan (orchid) có hoa thơm và ăn được - dùng làm cho thêm vị trong thức uống (vị vanilla). Thiết cũng là một biệt danh của trà; Ngoài ra “Phương Ngôn” còn ghi rằng ' ... Người Tây Nam đất Thục gọi trà là thiết ...'

Theo Bản Thảo thì trà còn có một tên nữa là
Du Đông 遊冬 (ý nói loài cây sống qua mùa đông?).
Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa/CNNAGN là cuốn từ điển cổ, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, còn ghi loại rao đắng Du Long, theo thiển ý là một dạng của Du Đông (phụ âm đầu đ ~ l):

'
Du Long rau đắng một ao'
CNNAGN - Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm và chú giải - NXB Khoa Học Xã Hội (1985 - Hà Nội)

Theo Trà Kinh thì lá trà như lá
Chi Tử 支 子, mà Paulus Của trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (1895) gọi là cây dành dành :'...Thứ cây nhỏ, bông thơm có trái mà trong ruột vàng tươi, màu lót đó, cũng là vị thuốc mát, sách thuốc gọi là Chi Tử ...’. Chữ Nôm dành dùng chữ đình HV 亭 làm thành phần hài thanh với khả năng ngạc cứng hoá thành các dạng dong dỏng (cao như cái đình), dừng (停 đình, đứng, ngừng). Xem lại chữ mính 茗 (một tên gọi của trà) ta thấy thành phần hài thanh là danh 名, cho nên có thể cây dành dành cũng chính là cây mính đã được TVGT ghi là đồ nha - tòng thảo danh thanh vậy. Những ai từng 'ghiền' trà chắc không tránh khỏi một nhận xét là ly tách ... uống trà đều trở nên vàng ố và ngay cả răng của mình: đây là hậu quả nhuộm vàng của chất catechin C15H16O6 (dùng cho thuốc nhuộm, một loại antioxidant) trong trà. Chính vì thế mà cây dành dành cũng dùng để nhuộm màu vàng, đỏ ... Cây dành còn chỉ các là một loài cây có bông như sunflower, hoa hồng ... 'cây dành nam, dành tàu'.

Tư Mã Tương Như (179 TCN-117 TCN) - người Thành Đô/Thục Quận, bây giờ là tỉnh Tứ Xuyên - trong "Phàm Tương Thiên" liệt kê các cách gọi trà: để ý thường là các từ ghép như '
ô trác, kết ngạnh, nguyên hoa , khoản đông, bối mẫu, mộc nghiệt lâu , cầm thảo, thược dược quế, lậu lô , phỉ liêm, quán khuẩn, suyễn sá , bạch liễm, bạch chỉ, xương bồ , mang tiêu, hoàn tiêu, thù du ...' - trích từ chương 7 của Trà Kinh, dựa theo http://zh.wikisource.org/wiki/%E8%8C%B6%E7...%B9%8B%E4%BA%8B . Để ý là cũng từ vùng Tứ Xuyên ta có Vương Bao 王褒, năm 59 TCN, viết về việc buôn bán trà - xem chi tiết trong bài viết “Vương Bao đồng ước Vũ Dương mại trà” 王褒僮約武陽賣茶trên mạng http://www.teazj.com/Tea_Culture/Tea...ture/8715.html

Thi nhân thời Tây Tấn Tôn Sở (293 SCN) có viết trong Tôn Sở Ca Cú 孫楚歌句 có ghi rằng (trích Trà Kinh)


....

姜桂茶荈出巴蜀; 椒橘、木蘭出高山
Khương quế trà suyễn xuất Ba Thục ; Tiêu quất , mộc lan xuất Cao San
....
Khá nhiều tài liệu cổ đại TQ liên hệ trà đến vùng (Ba) Thục, một nước cổ đại bị Tần xoá tên sau khi đánh bại vào năm 316 TCN. Nước Thục nằm giữa và phía tây tỉnh Tứ Xuyên TQ bây giờ, gồm các dân tộc thiểu số như Khương 羌, Lôlô hay Di 彝 ... Phạm trù nghĩa của đồ, trà, chè tương ứng rất khăng khít với quá trình thu hẹp nghĩa của chúng qua thư tịch cổ TQ; So sánh với Thục Phán 蜀泮 An Dương Vương6 - tên vị vua duy nhất của Âu Lạc - ta có một cơ sở thành lập mối dây liên hệ giữa Thục Phán (con Thục Chế) và xứ sở của loài trà. Cũng từ khả năng xuất phát từ phương Nam mà có viện sĩ Nga (1976) từng đưa ra nhận xét về quá trình tiến hoá của trà uống là " ... loài trà từ Việt (Nam) trước rồi trở thành cây trà có lá to của miền Nam TQ, sau đó là trà TQ và sau đó truyền sang Assam (Ấn Độ) ..."; Xem thêm chi tiết trong bài http://www.shantuyet.com/the-history-of-gr...ese-tea-plants/ . Từ các cách gọi tên trà, ta thấy vết tích của giao lưu ngôn ngữ đã có ngay từ thời cổ đại ở Bắc Việt Nam và Nam TQ. Các vấn đề Thục Phán và nước Cổ Thục, cùng nguồn gốc chính xác của trà đều là những chủ đề cần phải khảo cứu sâu xa hơn với những dữ kiện khảo cổ, lịch sử tương thích với dữ kiện ngôn ngữ trong vùng vào thời bấy giờ. Vì có những dữ kiện liên hệ trà đến nước Cổ Thục mà học giả Laurent Sagart (1999) đề nghị nguồn gốc âm trà (chá BK) có thể đến từ ngôn ngữ dân tộc Lô Lô; *la tiếng Lô Lô nghĩa là lá và cũng là trà. Tiếng tiền Lô Lô-Myanma (proto-Lolo-Burmese) có một dạng là *s-la, và phân bố rộng hơn như tiếng Choang/Tráng (Zhuang) 壯 cũng có la4 là trà, tiếng Miến Điện (Myanmasa) là la-hpe?, tiếng Karen là la?-hpa ... So với tiếng tiền Nam Á (proto-Austroasiatic) lá có dạng *sla - theo GS Axel Schuessler trong cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" NXB University of Hawai'i (Honolulu, 2007).

4. Vân Đài Loại Ngữ/VĐLN và trà


VĐLN viết về trà trồng trên núi Am Thiền, Am Giới, Am Các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá nước ta... Uống vào mát tim, phổi, giải khát, ngủ ngon ... Hoa, nhị chè có hương thơm tự nhiên

VĐLN cũng trích Trà Kinh (7) " ... trà là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành) ...". Nhận xét của Lê Quý Đôn cũng khá phù hợp với lời ghi nhận trong " Đồng Quân Thái Dược Lục " 《桐君采藥錄》: một tác phẩm cổ đại về Trung y, trích Trà Kinh, Trà Sự (chương 7)

.... 又南方有瓜蘆木,亦似茗,至苦澀,� �爲屑茶,飲亦可通夜不眠。煮鹽人但� ��此飲,而交廣最重,客來先設,乃加 以香芼輩 ....


....Hựu nam phương hữu qua lô mộc , diệc tự mính , chí khổ sáp , thủ vi tiết trà , ẩm diệc khả thông dạ bất miên . Chử diêm nhân đãn tư thử ẩm , nhi Giao Quảng tối trọng , khách lai tiên thiết , nãi gia dĩ hương mạo bối ....


(Tạm dịch)
Còn phương Nam có cây qua lô - cũng giống như trà (mính) rất đắng chát, nghiền thành mạt (bột) trà, uống thì suốt đêm không ngủ được. Dân chúng hai vùng Giao (Châu) và Quảng (Châu) thích loại trà này nhất, nếu khách lại thì đem ra đãi trước nhất sau đó thì thêm các hương vị (rau cỏ) khác ....

Học giả Lê Quý Đôn (1726-1784) đã ghi nhận cụm từ song tiết qua lô (hay qua la) rất đáng chú ý: nhiều tài liệu khác như Quảng Bác Vật Chí, Thái Bình Ngự Lãm ... đã dẫn chứng các dạng từ song tiết
(8) như qua lô 瓜蘆, cao lô 皋蘆, quá (qua) la 過羅, cao hộ皋户 ... Do đó ta có thể phục nguyên một dạng âm cổ của trà là *k-la(u); Dạng này phù hợp với tiếng Việt cổ hơn: tiếng Việt cho tới thời Việt Bồ La (1651) vẫn còn duy trì những tổ hợp phụ âm bl- ml- tl- như blang (trăng), tláng (trắng) ... Ngay cả trong cách viết chữ Nôm còn có dạng cách lâu (*klâu/klu là trâu - tiếng Mường Bi là tlu) và ba lăng (blăng là trăng) ...

Bài viết cùng chuyên mục

Giáo sư Cao Chi đã biên dịch một đề tài mới nhất trong vật lý thiên văn hiện đại, mô tả các liên đới trong vũ trụ, để từ đó giải thích các hiện tượng rối lượng tử. Mà trong đó, hai hạt lượng tử dù...

Cửu đỉnh được coi là bộ bách khoa thư của Việt Nam được các học sỹ dưới thời phong kiến soạn ra một cách hết sức tổng quát.

Đã đến lúc cần cấp tốc loại bỏ thứ "văn hóa đóng khố" ra khỏi nhận thức về trang phục thời đại Hùng Vương, vì đó là một sai lầm nguy hại.

Theo lập luận của GS Nguyễn Văn Hảo, trống đồng ra đời ở Việt Nam và được người Trung Quốc mang về làm thêm một số họa tiết...